Hồi ký du lịch Venice 2011 (phần 2)


Nếu như ngày đầu tiên chủ yếu thiên về du ngoạn vãn cảnh những địa danh nổi bật nhất của Venice, ngày thứ hai thiên về khám phá những khu phố để tìm hiểu cuộc sống đời thường của người dân. Như thói quen thường lệ, Thái Balô luôn nhắm vào những nơi có chợ địa phương để hòa mình vào cuộc sống thường ngày của người bản địa. Khu chợ cá gần cây cầu Ponte Rialto là một kiểu chợ như thế. Đây là khu chợ lâu đời nhất của thành phố Venice, thậm chí có thể nới là sinh ra ngay từ thời khai sinh lập địa của thành phố này. 

Người ta nói rằng ngay từ thời Trung Cổ thì khu chợ này đã hình thành với mục đích trao đổi buôn bán thương mại với những tàu bè từ vùng khác đến. Đã từ hơn 1000 năm nay, những hộ nông dân trồng rau củ quả hoặc chăn nuôi ở những hòn đảo lân cận  hoặc từ đất liền lui đến khu chợ này để cung cấp thực phẩm cho Venice. Trên lý thuyết, phiên họp chợ kéo dài đến tận trưa nhưng để có thể trải nghiệm đúng chất không gian sống 100% địa phương thì phải tham quan vào lúc 8h sáng, thời điểm mà chủ yếu chỉ có người Ý với nhau và không có mấy khách du lịch. Lý do đơn giản thôi, đại đa số khách du lịch còn đang ngáy khò khò ở khách sạn hoặc đang đủng đỉnh ăn bữa sáng.
Khi phiên chợ bắt đầu xuất hiện những làn khách du lịch thì cũng là lúc Thái balo rời khu chợ hải sản Rialto để đi khám phá những khu vực ít khách du lịch hơn. Ở thành phố Venice này, ngoài con sông chính Grand Canale với đủ các thể loại khách du lịch, bạn hoàn toàn có thể khám phá bộ mặt thuần chất hơn nếu chịu khó cuốc bộ vài cây số và luồn lách vào những khu phố địa phương. Những khu phố này thường cách con sông Grand Canale tối thiểu là 1km và tôi dám cam đoan rằng bạn sẽ có những trải nghiệm thú vị. Hầu như toàn bộ buổi sáng của tôi chỉ dành cho việc tản bộ khám phá trong những khu phố này, cái mà người Venice gọi là sestieri

Vào thời kỳ hưng thịnh nhất của vương quốc Venice (khoảng giai đoạn thế kỷ XII-XVI), đây là nơi đất lành chim đậu, thu hút rất nhiều thương gia tứ xứ đến đây trao đổi buôn bán và an cư lạc nghiệp. Những con tàu buôn bán rồi những thợ thủ công ở đây đến từ nhiều quốc gia như Hy Lạp, Đức, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Do Thái. Mỗi một quốc gia như vậy lại xây dựng cho mình một cộng đồng riêng và sống tập trung vào một khu phố riêng, theo đúng nghĩa sestieri nói trên. Trong khu phố của họ có đủ những gì cần thiết nhất cho việc tổ chức hành chính của mình, từ hệ thống nhà kho chứa đến cửa hàng và quầy bán hàng. Trong số tất cả những cộng đồng ngoại quốc sinh sống trên đất Venice này, thú vị hơn cả là cộng đồng Do Thái. Tôi nói chữ thú vị có lẽ cũng không phải là từ chính xác cho lắm nhưng rõ ràng người Do Thái trên đất Venice đã đóng góp rất nhiều trong công cuộc xây dựng một đế chế thương mại hàng hải hùng mạnh. Nói là Do Thái, nhưng cộng đồng này không phải là đồng nhất. Do Thái ở đây ám chỉ những điểm chung của cộng đồng về mặt tôn giáo, đạo Do Thái. Tuy nhiên, một người Do Thái ở Venice có thể đến từ Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hoặc Trung Đông. Tuy có nền tảng chung là tôn thờ đạo Do Thái, những con người này rất khác nhau về mặt văn hóa và lối sống. Vì thế, giữa họ tồn tại một sự hiềm khích nhất định, xuất phát từ mâu thuẫn văn hóa thậm chí là tư lợi kinh tế. Có rất nhiều khu phố sestieri rải rác trên Venice nhưng Thái balo chỉ chọn thí điểm 2-3 khu phố tiêu biểu để khám phá. 

Khu phố đầu tiên mà tôi khám phá là Canareggio. Ngày nay, khu phố Canaregio giống như một hòn đảo có năm cạnh và được bao bọc bởi các con kênh. Đường dẫn vào khu phố này là men theo con sông Canale di Canaregio. Nguyên nhân chính khiến tôi chọn khu phố này thì chủ yếu mang tính lịch sử. Xưa kia, đây đã từng là một đặc khu dành cho người Do Thái. Do Thái thì ở đâu mà chẳng có, khắp Châu Âu đều có nhưng có lẽ Venice là thành phố đầu tiên của Châu Âu có cả một khu phố chỉ dành riêng cho dân tộc xấu số này. 
Và một điều thú vị nữa, chắc hẳn bạn biết từ ghetto? Trong tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, ghetto thường là một thuật ngữ mang tính tiêu cực, ám chỉ một khu phố ổ chuột dành cho những người thuộc tầng lớp hạ đẳng của xã hội. Trên thực tế, thuật ngữ này đã có phần bị bóp méo nghĩa khi người Pháp và Anh mượn từ này từ người Ý. Vậy cụ thể, ý nghĩa của từ ghetto này ở Venice là như thế nào? Hãy quay trở lại vào thế kỷ XIV để tìm hiểu nó. Vào thời kỳ ấy, cộng đồng người Do Thái vốn dĩ rất giỏi về làm kinh tế đã có nhiều mối  quan hệ thương mại với vương quốc Venice. Họ buôn bán bằng đường biển và dần dần muốn an cư lạc nghiệp lâu dài ở đây. Nhận thấy những đóng góp nhất định của người Do Thái về mặt kinh tế, chính quyền địa phương quyết định cho phép họ định cư vào khu phố Canaregio ngày nay, nằm ở phía tây bắc của thành phố. Thời bấy giờ, khu phố Canaregio là một đặc khu chuyên về nghề nung chảy kim loại để sản xuất súng thần công. Khu phố này được xây dựng lên với mục đích quân sự, sản xuất thật nhiều binh khí để chuẩn bị cho chiến lược bành trướng của quân đội Venice lên các lãnh thổ trên đất liền. Trong tiếng ý geto có nghĩa là nung chảy kim loại, theo dòng thời gian biến đổi thành ghetto. Lịch sử của từ này ra đời như vậy đó.

Venice không ưa gì người Do Thái nhưng chính quyền thành phố cũng phải công nhận dân tộc này là những người rất giỏi làm ăn và kiếm tiền. Trong bối cảnh Venice đang trong thời kỳ chiến tranh và cạnh tranh khốc liệt với những thế lực lân cận như vương quốc Genoa, Pháp, Áo, chính quyền cần có rất nhiều tiền để trang trải chi phí chiến tranh. Vì lý do này, việc giữ quan hệ tốt với cộng đồng người Do Thái sẽ giúp Venice có nguồn thu tài chính rất tốt. Vậy làm cách nào để moi được tiền từ người Do Thái? 
Rất đơn giản: cho họ quyền được sống tập trung tại một khu vực khép kín và bắt họ phải đóng thuế đất đều đặn, với giá cao. Người Do Thái ở Venice vào thời kỳ Trung Cổ tuy đã được cho phép an cư lạc nghiệp nhưng không được hưởng quyền lợi như những công dân bản địa khác. Số lượng lớn cộng đồng Do Thái trên đất Venice ít nhiều khiến cho chính quyền địa phương dè chừng vai trò quá lớn mạnh của họ về mặt kinh tế. Chính vì vậy, chính quyền Venice luôn tìm mọi cách để kìm hãm sự phát triển của người Do Thái. 
Chính sách phổ thông nhất là dồn tất cả người Do Thái sống tập trung tại một khu vực, xây dựng hệ thống cổng thành rào kín khu phố ấy để dễ dàng kiểm soát mọi hoạt động đi lại của người Do Thái. Về đêm, người Do Thái bị giới nghiêm không được phép ra ngoài. Ngày nay vẫn còn sót lại một cổng vào với biển hiệu “Sotoportego del Ghetto Vecchio”, chốt chặn không cho phép người Do Thái ra khỏi ranh giới này.
Những ngành nghề mà người Do Thái có thể thực hiện cũng bị bó hẹp. Họ chỉ được hoạt động ở một số lĩnh vực như: cho vay tiền, y học, buôn bán vải vóc và kinh doanh cửa hiệu cầm đồ. Có lẽ vì bản chất sống tiết kiệm, thậm chí là tằn tiện trong chi tiêu, nên cộng đồng người Do Thái thường có của ăn của để, có dư tiền ra để cho người khác vay. Và đây là một điểm chung mà Thái balo thấy ở rất nhiều người gốc Do Thái mà tôi được biết đến, cho dù họ là người Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Đức hay Ba Lan.
Họ chỉ được phép ở khép kín trong khu vực này chứ không được xây nhà hay ở những khu phố khác của thành phố. Vì lý do này, khi mà dân số cộng đồng người Do Thái ở đây tăng lên, họ buộc phải cho xây các tòa nhà theo chiều cao nhiều tầng để có thể chứa được những miệng ăn phát sinh thêm. Theo sử sách ghi lại, vào những thế kỷ XVII-XVIII, tổng cộng số người sinh sống ở khu phố này rơi vào khoảng 5000 người. Vì thế, chiều cao trung bình của các tòa nhà ở đây lên đến 7-8 tầng, một ngoại lệ so với chiều cao trung bình của tất cả khu phố khác của Venice. Ngoài ra, kiến trúc bên ngoài của những tòa nhà này cũng rất xấu xí, không được xa hoa như những dinh thự dọc con sông Grand Canal. Kích thước trung bình của các cửa sổ cũng bé hơn bình thường, lý do vì hồi ấy người Do Thái ở đây còn phải trả thuế để có được ánh sáng mặt trời rọi vào nhà. Cửa sổ càng to thì càng có nhiều ành sáng để rọi vào, sẽ phải đóng nhiều thuế hơn. Người Do Thái vốn dĩ tằn tiện, đã chọn phương án làm cửa sổ nhỏ nhất có thể, để tiết kiệm tiền thuế.  
Sống khép kín trong khu vực này, người Do Thái vẫn duy trì đều đặn những phong tục tín ngưỡng của mình. Họ cho xây nhà thờ Do Thái một cách rất kín đáo. Nếu như không tìm hiểu trước, bạn sẽ không thể khám phá được những nhà thờ này bởi chúng không được xây hoành tráng như kiểu nhà thờ Thiên Chúa giáo. Hầu như tất cả nhà thờ Do Thái ở đây được xây như một hạng mục cơi nới trên cao, nằm bên trên tất cả các tòa nhà của người dân. Cách để nhận biết các nhà thờ này chính là ở 5 chiếc cửa sổ trên bề mặt tường, biểu tượng cho 5 cuốn sách trong bộ kinh thánh Torah của người Do Thái. 
Số 5 đích thị là biểu tượng của tôn giáo, thứ mà chỉ có ở một công trình tôn giáo, chứ không thể có ở một công trình dân dụng. Tuy được kết nối với nhau bằng tôn giáo Do Thái, điều này không đồng nghĩa với việc những người Do Thái trong khu phố Canaregio này sống hòa thuận với nhau. Giữa họ đôi khi có hiềm khích mà nguồn gốc sâu xa đến từ sự phân hóa tầng lớp giàu nghèo cũng như văn hóa ngay giữa cộng đồng. Người Do Thái đến từ Đức sống với nhau, người Do Thái đến từ Tây Ban Nha cũng sống riêng với nhau, và cũng tương tự như vậy với những người Do Thái đến từ Ý đại lục và Trung Đông. Với mỗi xuất xứ như vậy, những cộng đồng tách biệt này lại xây riêng nhà thờ Do Thái, của người Đức riêng, của người Tây Ban Nha riêng….Tùy thuộc vào sức mạnh tài chính, nhà thờ Do Thái này có thể to và hoành tráng hơn nhà thờ Do Thái khác. Cộng đồng Do Thái gốc Tây Ban Nha do có mối quan hệ kinh tế mật thiết với hoàng gia Tây Ban Nha nên có nhiều tiền để xây dựng nhà thờ, vì thế nó hoành tráng hơn so với những nhà thờ khác trong khu phố.

Người Do Thái trong một thời gian dài vẫn sống một cách ôn hòa với người Venice bản địa mãi cho đến khi thành phố rơi vào thoái trào vào thế kỷ XVIII thì họ mới bắt đầu tản cư đi nơi khác. Điều này đánh dấu sự biến mất một cách dần dần của cộng đồng người Do Thái trên đất Venice.  Và có lẽ sự kiện rõ nét nhất còn ghi trong ký ức của vài trăm người Do Thái còn sót lại ở đây liên quan đến Thế Chiến Thứ II. 
Đức Quốc Xã tiếp quản nước Ý khi phát xít Ý có những dấu hiệu suy yếu và thất bại trên nhiều mặt trận ở Bắc Phi. Người Đức đã tiến hành truy quét và bắt nhiều người Do Thái ở Venice rồi đưa về trại tập trung ở Auschwitz (Ba Lan), điều mà họ làm tương tự với rất nhiều cộng đồng Do Thái ở các quốc gia Châu Âu khác. Có khoảng 250 người Do Thái ở Venice bị bắt đi và chỉ có 8 người sống sót quay trở về. 
Ngày nay, vẫn còn những đài tưởng niệm để ghi nhớ đến sự kiện này. Một trong những công trình nghệ thuật bằng đồng miêu tả chuyến tàu hỏa cuối cùng chở người Do Thái đến trại tập trung.
Ngày nay, vẫn còn một số hộ gia đình gốc Do Thái sống ở khu phố Canaregio này. Họ vẫn sống khép kín trong cộng đồng Do Thái của họ, vẫn ăn mặc trong trang phục truyền thống với chiếc mũ kippah và gia đình thường họp mặt ở những nhà hàng dành riêng cho người Do Thái. Tại đây cũng có một số cửa hàng bán các loại thực phẩm đặc sản mang phong cách Do Thái ví dụ như cửa hàng này chuyên bán các loại bánh ngọt.
Khu phố Canaregio chắc chắn không phải là nơi dành cho những du khách thích chụp ảnh bởi nó chẳng sở hữu bất cứ công trình đẹp nào cả. Thậm chí, những tòa nhà nơi đây còn xấu xí và ọp ẹp nhưng tôi vẫn cảm thấy hài lòng khi biết thêm được những kiến thức bổ ích liên quan đến cộng đồng Do Thái ở Châu Âu. Một mẩu kiến thức ở Venice là một thứ để tôi xâu chuỗi với mẩu kiến thức ở Ba Lan, Hungary hay CH Séc. Và với tất cả những mẩu kiến thức nhỏ ấy, tôi đã xây dựng được một nền tảng hiểu biết cho riêng mình về người Do Thái. Chuyến du lịch khám phá khu phố người Do Thái ở Venice đã làm đảo lộn hoàn toàn những kiến thức mà tôi đã lĩnh hội trước đó. Cả thế giới thường biết đến số phận của người Do Thái chủ yếu nhờ vào Thế Chiến Thứ II và những tội ác mà Phát Xít Đức đã làm với họ. Người ta cứ tưởng rằng phong trào bài trừ Do Thái hoặc nạn phân biệt chủng tộc là do chính quyền của Hitler khơi mào lên nhưng thực tế không phải như vậy. Mối quan hệ hiềm khích với người Do Thái đã xuất hiện từ vài thế kỷ trước đó và Venice là một trong những nơi đầu tiên nhen nhóm phong trào ấy. Với những hiểu biết của tôi, có thể coi cuối thế kỷ XIV là cột mốc lịch sử đánh dấu phong trào bài trừ Do Thái của các nước Châu Âu mà đi đầu là Tây Ban Nha và Ý. Thái balo sẽ có một bài viết thuyết trình về lịch sử phát triển của nạn phân biệt chủng tộc.  

Unknown

Phasellus facilisis convallis metus, ut imperdiet augue auctor nec. Duis at velit id augue lobortis porta. Sed varius, enim accumsan aliquam tincidunt, tortor urna vulputate quam, eget finibus urna est in augue.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét