NGÀY 3 : SEVILLA / PUEBLOS BLANCOS
Như đã giải thích trong 3 phần trước, vùng Andalucia mang đậm dấu ấn của văn hóa Hồi giáo - Ảrập đến từ Trung Đông, từ kiến trúc cho đến ẩm thực. Hành trình ngày hôm nay của tôi tiếp tục đào sâu hơn vào nét đặc thù này. Khác với hai hôm đầu chỉ tập trung vào khu vực thành thị của Sevilla, lịch trình của ngày thứ 3 đi sâu hơn vào những làng mạc nông thôn, nơi cho phép tôi tìm hiểu một khía cạnh khác về sự tồn tại của người Hồi giáo trên đất Tây Ban Nha. Lại nói đến người Hồi giáo, một cụm từ mà đại đa số chúng ta đều không tránh khỏi sự nhầm lẫn và vơ đũa cả nắm. Với rất nhiều người, Hồi giáo = Ảrập và ngược lại. Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Trên thực tế, cụm từ Ảrập chỉ ám chỉ một bộ tộc người, còn người Hồi giáo chỉ ảm chỉ quần thể những bộ tộc người đi theo tôn giáo này. Vì thê, một người Hồi giáo có thể là người tộc Ảrập hoặc tộc Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc tộc Ba Tư, hoặc một bộ tộc nào khác. Trong trường hợp của nước Tây Ban Nha, những người Hồi giáo đã từng sống trên quốc gia này bao gồm những bộ tộc du mục berber và cả người Ả rập nữa. Nếu như người Ảrập ở đây có nguồn gốc từ Trung Đông xa xôi thì người du mục berber xuất xứ từ các nước Bắc Phi, đặc biệt là từ Marốc, Algeria và Mali. Tôi đề cập đến sự di cư của những bộ tộc này sang miền nam Tây Ban Nha bởi khi họ an cư lạc nghiệp trên vùng đất mới đã vô hình chung tạo ra một di sản văn hóa còn tồn tại cho đến ngày nay : la ruta de los pueblos blancos, tạm dịch là con đường những ngôi làng trắng. Đây là một điểm đến du lịch không thể bỏ qua nếu như bạn thực sự là một người thích tìm hiểu văn hóa vùng Andalucia đúng nghĩa.
Có tên gọi như vậy vì tất cả các ngôi làng này đều có một điểm chung là bề mặt các ngội nhà đều được sơn trắng muốt. Nhìn từ xa, bất cứ du khách nào cũng sẽ bị ấn tượng bởi khung cảnh những ngôi làng nhỏ nằm treo leo trên vách núi tạo nên một bức tranh 4 màu : màu xám của núi đá, màu trắng của tường nhà, màu đỏ của mái ngói, và màu xanh của bầu trời. Hệ thống các ngôi làng này gợi nhớ đến một giai đoạn lịch sử không thể bỏ qua của Tây Ban Nha, đó là giai đoạn mà người Tây Ban Nha gọi là Reconquista. Xin nhắc lại sơ qua một chút nhé.
Vào khoảng thế kỷ thứ VII sau CN, đã xuất hiện một làn sóng truyền bá đạo Hồi lớn chưa từng có. Bắt đầu từ Trung Đông, các đạo quân hậu duệ của nhà tiên tri Mohamed trải đi khắp Bắc Phi ,Trung Đôngg rồi tràn lên miền nam Tây Ban Nha. Bản đồ trên đây cho thấy những mũi tên ám chỉ hướng tấn công của quân Hồi giáo, quả thật là quy mô rất rộng lớn. Họ thành lập những tiểu vương quốc Hồi giáo trên đất Tây Ban Nha và tồn tại trong suốt 8 thế kỷ, cho đến tận năm 1492.
Vương quốc của những người Tây Ban Nha bản địa theo đạo Thiên Chúa giáo trong thời gian đầu bị bắt nạt và bị dồn ép vào một khoảnh đất khá khiên tốn phía bắc. Như bản đồ trên đây cho thấy lãnh thổ bán đảo Iberia (Bồ Đào Nha + Tây Ban Nha) vào khoảng thế kỷ X-XI bị phân chia làm hai : màu da cam phía bắc là lãnh thổ của các vương quốc theo Thiên Chúa giáo, còn màu xanh lá cây là lãnh thổ của các tiểu vương quốc Hồi giáo. Một điều thú vị ở đây là vào giai đoạn này chưa hình thành vương quốc Tây Ban Nha thống nhất mà là hàng loạt các vương quốc nhỏ có cùng điểm tương đồng về văn hóa Tây Ban Nha : xứ Leon & Castilla, xứ Navarre, xứ Aragon, xứ Catalan.
Bắt đầu từ thế kỷ thứ XI, người Tây Ban Nha bắt đầu mạnh lên nhờ sự sát nhập của một số vương quốc. Trong khi đó, quyền lực của người Ảrập- Hồi giáo bị suy giảm đáng kể do mâu thuẫn nội bộ giữa các tiểu vương quốc Hồi giáo. Các đạo quân của người Thiên Chúa giáo nhân cơ hội này đã tiến hành những cuộc phản công mang tính định kỳ, gọi là Reconquista. Họ tiến hành một cuộc “nam tiến” và dần chiếm lại những lãnh thổ xưa kia đã từng bị người Hồi giáo cướp đi. Ranh giới giữa vương quốc Thiên Chúa giáo phía bắc và Hồi giáo phía nam dần dần được thay đổi theo chiều hướng có lợi cho người Tây Ban Nha. Đến tầm thế kỷ XIII, về mặt cơ bản người Tây Ban Nha đã chiếm lại khoảng 70% địa bàn của người Hồi giáo. Để cô lập phần còn lại của đối thủ, vua Tây Ban Nha cho thiết lập một hệ thống vành đai các làng mạc dọc biên giới, với vai trò như những chốt chặn quân sự để báo động từ xa các cuộc tấn công của người Hồi giáo. Con đường những ngôi làng trắng được sinh ra như thế đó. Những đốm màu đỏ được đánh dấu trong bản đồ (tôi không đánh dấu hết) chính là những ngôi làng pueblos blancos còn tồn tại đến ngày nay
Con đường những ngôi làng trắng được phân định biên giới bắt đầu từ Arcos Frontera đến thành phố Cadiz với tổng chiều dài khoảng hơn 300km. Ven theo trục đường này là hàng loạt các ngôi làng khác nhau vói những cái tên như : Espera, Bornos, Villamartin, Prado del Rey, Benamahoma, Ubrique, Benaocaz, Villaluenga del Rosario, Grazalema, Puerto Las Palomas, Zahara de la Sierra, Algondonales, Olvera. Tất nhiên, với hàng loạt cái tên như vậy, bạn sẽ không thể nào thăm tất cả trong một ngày, kể cả khi bạn có trong tay một chiếc ôtô thì cũng phải mất 2-3 ngày. Với việc phải phụ thuộc vào hệ thống xe buýt như tôi, chắc chẳn phải chọn lọc ra những ngôi làng nào thuận tiện cho việc đi lại nhất. Vì thế, tôi chỉ chọn Arcos de la Frontera và Olvera như là hai địa danh tiêu biểu nhất. Cả hai ngôi làng này đều sở hữu tất cả những đặc thù của một ngôi làng trắng : những dãy nhà thấp, tường sơn màu trắng, các nẻo đường vừa nhỏ vừa ngoằn ngoèo. Tuy khoảng cách trung bình giữa các ngôi làng chỉ vào tầm 20km nhưng xe buýt không thể đi với tốc độ cao vì đường khúc khuỷu.
Arcos De la Frontera tuy có quy mô nhỏ (khoảng 30.000 người) nhưng đã từng là thủ phủ của một tiểu vương quốc Hồi giáo. Đây là một điểm khá thú vị trong quá trình người Ảrập và người berber tồn tại trên đất Tây Ban Nha. Trong khoảng 2 thế kỷ, X-XI, lãnh thổ do người Hồi giáo cai trị bị xé nhỏ thành rất nhiều tiểu bang, có ông vua lớn có ông vua bé. Ông vua mà cai quản mảnh đất nhỏ như Arcos de la Frontera thì được gọi là taifa. Vào thời điểm ấy phải có đến hơn 20 tiểu vương quốc do taifa quản lý. Người Hồi giáo ở đây cố thủ và giữ được thành cho đến năm 1264 thì bị khuất phục bởi người Tây Ban Nha.
Tại sao đại đa số các ngôi làng lại nằm treo leo trên vách núi đá hiểm trở như vậy? Tất cả được giải thích bằng lịch sử. Những bộ tộc du mục berber từ Marốc sau khi di cư sang miền nam Tây Ban Nha vẫn duy trì phong tục tập quán cũ của họ. Tại nơi quê nhà, họ luôn sống trên những dãy núi cao Atlas. Và khi sang Tây Ban Nha, họ vẫn duy trì thói quen sống trên cao, vì thế tiếp tục xây dựng làng mạc trên vách núi đá. Mối quan hệ giữa cộng đồng người berber và người Ảrập khá ôn hòa. Họ không mấy khi quan tâm đến những mối tư thù giữa vương quốc Hồi giáo và các vị vua Tây Ban Nha phương bắc. Họ chỉ đơn giản bằng lòng với quộc sống an bình, hàng ngày làm đồng rồi nộp tô thuế định kỳ cho các vị vua Hồi giáo, thế là xong. Khi quân đội Tây Ban Nha tái chiếm hết vùng này đến vùng khác, người berber do lo sợ bị tấn công, đã gia cố thêm hệ thống phòng thủ và những ngôi làng treo leo này thu hút thêm các hộ gia đình berber khác trước đó sống rải rác ở đồng bằng.
Sau khi đã thống nhất toàn bộ lãnh thổ, người berber vẫn được người Tây Ban Nha để yên, không động chạm gì, có lẽ vì họ không trực tiếp tham gia vào chiến tranh chống lại vua Tây Ban Nha. Vì thế, cộng đồng berber vẫn tiếp tục duy trì lối sống tương đối cô lập trong những làng mạc. Có chăng thì người Tây Ban Nha chỉ cho xây dựng một vài cái nhà thờ Thiên Chúa giáo, gọi là để tôn vinh chiến thắng của vương quốc Tây Ban Nha trước người Hồi giáo.
Người dân ở ngôi làng này khá thân thiện với du khách, mà tôi nghĩ đa phần người Tây Ban Nha đều vậy. Chỉ có điều hầu như không có ai ở đây nói được tiếng Anh cả. Để có thể nói chuyện với họ, tôi sử dụng thứ ngôn ngữ hổ lốn, một chút tiếng Pháp, một chút tiếng Ý cộng thêm một số từ vựng mà tôi tích lũy được qua việc nghe nhạc dòng latinos. Chỉ là một cử chỉ như vậy thôi nhưng nó thực sự thể hiện thiện chí của tôi trong việc giao lưu với người bản địa. Và tôi nghĩ người ở đây cảm nhận được điều đó và họ tỏ ra khá hứng thú, dù cuộc hội thoại với tôi chỉ đơn giản là vài câu nói chào hỏi hoặc hỏi đường.
Trung tâm của ngôi làng là quảng trường Plaza del Cabildo. Dưới thời cai trị của người Hồi giáo, quảng trường này có tên là Medina Arkosch. Cái tên medina ám chỉ “trung tâm” và tôi thấy ở Marốc cũng có nhiều thành phố mà trung tâm cũng được đặt là medina, ví dụ như ở Marrakech, Fes và Meknes. Điều này càng khẳng định rõ hơn những điều tôi nói ở trên, có một sợi dây văn hóa nối giữa miền nam Tây Ban Nha và Marốc.
Tọa lạc ở giữa là nhà thờ Santa Maria, được xây trên chính nền móng của nhà thờ Hồi giáo cũ. Đây là một “bài” khá phổ biến của người Tây Ban Nha khi họ tái chiếm các vùng đất từ tay người Hồi giáo. Phá hủy một công trình tôn giáo của đối thủ mang ý nghĩa tượng trưng cho chiến thắng của nền văn mình Thiên Chúa giáo trước người Ảrập.
Sau khoảng 3 tiếng tham quan Arcos de la Frontera, tôi bắt chuyến xe buýt đến ngôi làng tiếp theo mang tên Olvera. Khi đến nơi thì cũng đã xấp xỉ 4h chiều, tôi không đặt quá nhiều hi vọng vào việc chạy hồng hộc từ làng này sang làng khác mà thay vào đó là tập trung vào 2 ngôi làng tôi cho là tiêu biểu nhất. Olvera là ngôi làng tôi quyết định nghỉ đêm, một cơ hội tuyệt vời để trải nghiệm nhịp sống chậm nơi thôn quê này.
Sau khi đã thống nhất toàn bộ lãnh thổ, người berber vẫn được người Tây Ban Nha để yên, không động chạm gì, có lẽ vì họ không trực tiếp tham gia vào chiến tranh chống lại vua Tây Ban Nha. Vì thế, cộng đồng berber vẫn tiếp tục duy trì lối sống tương đối cô lập trong những làng mạc. Có chăng thì người Tây Ban Nha chỉ cho xây dựng một vài cái nhà thờ Thiên Chúa giáo, gọi là để tôn vinh chiến thắng của vương quốc Tây Ban Nha trước người Hồi giáo.
Người dân ở ngôi làng này khá thân thiện với du khách, mà tôi nghĩ đa phần người Tây Ban Nha đều vậy. Chỉ có điều hầu như không có ai ở đây nói được tiếng Anh cả. Để có thể nói chuyện với họ, tôi sử dụng thứ ngôn ngữ hổ lốn, một chút tiếng Pháp, một chút tiếng Ý cộng thêm một số từ vựng mà tôi tích lũy được qua việc nghe nhạc dòng latinos. Chỉ là một cử chỉ như vậy thôi nhưng nó thực sự thể hiện thiện chí của tôi trong việc giao lưu với người bản địa. Và tôi nghĩ người ở đây cảm nhận được điều đó và họ tỏ ra khá hứng thú, dù cuộc hội thoại với tôi chỉ đơn giản là vài câu nói chào hỏi hoặc hỏi đường.
Trung tâm của ngôi làng là quảng trường Plaza del Cabildo. Dưới thời cai trị của người Hồi giáo, quảng trường này có tên là Medina Arkosch. Cái tên medina ám chỉ “trung tâm” và tôi thấy ở Marốc cũng có nhiều thành phố mà trung tâm cũng được đặt là medina, ví dụ như ở Marrakech, Fes và Meknes. Điều này càng khẳng định rõ hơn những điều tôi nói ở trên, có một sợi dây văn hóa nối giữa miền nam Tây Ban Nha và Marốc.
Tọa lạc ở giữa là nhà thờ Santa Maria, được xây trên chính nền móng của nhà thờ Hồi giáo cũ. Đây là một “bài” khá phổ biến của người Tây Ban Nha khi họ tái chiếm các vùng đất từ tay người Hồi giáo. Phá hủy một công trình tôn giáo của đối thủ mang ý nghĩa tượng trưng cho chiến thắng của nền văn mình Thiên Chúa giáo trước người Ảrập.
Sau khoảng 3 tiếng tham quan Arcos de la Frontera, tôi bắt chuyến xe buýt đến ngôi làng tiếp theo mang tên Olvera. Khi đến nơi thì cũng đã xấp xỉ 4h chiều, tôi không đặt quá nhiều hi vọng vào việc chạy hồng hộc từ làng này sang làng khác mà thay vào đó là tập trung vào 2 ngôi làng tôi cho là tiêu biểu nhất. Olvera là ngôi làng tôi quyết định nghỉ đêm, một cơ hội tuyệt vời để trải nghiệm nhịp sống chậm nơi thôn quê này.
Theo một số nguồn tin, cái tên Olvera có thể có nguồn gốc từ oliver, cây ôliu. Nguyên nhân là do ngôi làng được bao bọc bởi các khu vườn trồng loại cây này. Ngay từ xa, Olvera dễ dàng được nhận ra, vẫn là một dải màu trắng do quần thể các ngôi nhà tường sơn màu trắng tạo nên. Tiếp đó là hai công trình nằm trên đỉnh và cao hơn hẳn so với số còn lại, đó chính là nhà thờ Iglesia Parroquial Nuestra Señora de la Encarnación và pháo đài Castillo Arabe.
Tôi cứ thong thả men theo các con đường nhỏ rồi đến được nhà thờ Iglesia Parroquial Nuestra Señora de la Encarnación, được xây vào thế kỷ XIX, như quy luật, trên nền móng của một nhà thờ Hồi giáo trước kia.
Dưới thời cai trị của người Hồi giáo, Olvera có tên Ảrập là Wubira. Di tích còn sót lại của thời kỳ ấy là pháo đài Castillo Arabe. Vào lúc bấy giờ, ngôi làng Olvera nhỏ hơn so với bây giờ rất nhiều, chỉ là vài dãy nhà nằm ngay dưới chân pháo đài. Phải chờ đến khi người Tây Ban Nha tái chiếm lại vào thế kỷ XIV thì làng Olvera mới có thêm dân cư và phát triển rộng dần để đạt được con số 10.000 người như ngày nay.
Pháo đài Castillo Arabe được xây dựng vào khoảng thế kỷ XII, trên một mỏm đá vôi. Pháo đài này được chủ ý xây trên đểm cao nhất với mục đích phòng ngừa từ xa hiểm họa tấn công của quân địch. Đặc biệt là vào buổi tối, lính gác có thể đốt lửa và làm hiệu lệnh thông báo cho các ngôi làng kế bên.
Một lần nữa, cần phải nhắc lại rằng những ngôi làng kiểu như Olvera vừa là làng vừa là một cứ điểm quân sự nên khoảng cách giữa chúng cần được giữ ở 20km, đủ để khi cần thiết quân lính của làng này có thể tiếp ứng chi viện cho ngôi làng khác.
Sau khi rơi vào tay người Tây Ban Nha, hầu hết tất cả các ngôi làng pueblos blancos như Olvera đều rơi vào quên lãng. Những người dân nơi đây hầu như sống trong tình trạng tự cung tự cấp, dựa chủ yếu vào nông nghiệp. Trong suốt những thế kỷ XV-XVIII, đây đã từng là nơi ẩn náu của những toán cướp nổi tiếng khát máu.
Tây Ban Nha vào thời kỳ Phục Hưng được coi là vương quốc giàu có nhất Châu Ây nhờ khai thác các mỏ vàng từ thuộc địa bên Châu Mỹ. Rất nhiều vàng đã được vận chuyển rồi đưa đến Sevilla. Điều này đủ cho thấy sự thèm thuồng của những băng đảng cướp sống chui lủi ở các ngôi làng hẻo lánh xung quanh.
Chúng tận dụng lúc các phái đoàn chở vàng của nhà vua đi ngang qua trục đường hẻo lánh để tấn công chớp nhoáng và cướp vàng. Phương pháp đánh nhanh thắng nhanh với số lượng quân số ít dần dần trở thành một phương pháp quân sự khá phổ biến ở vùng Andalucia và được người Tây Ban Nha áp dụng rất nhuần nhuyễn trong quá trình bị giặc ngoại xâm chiếm đóng. Thật vậy, vào đầu thế kỷ XIX, quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Napoleon đang làm mưa làm gió tại cả Châu Âu. Người Pháp thừa thắng đã xâm chiếm Tây Ban Nha và lập một chế độ vua bù nhìn.
Người dân Tây Ban Nha đã thực hiện một cuộc kháng chiến anh dũng, chủ yếu dựa trên kiểu đánh du kích, lấy ít địch nhiều, lấy lợi thế địa bàn hiểm trở để đối chọi với quân đội Pháp vốn chỉ quen đánh dàn trận trên địa bàn bằng phẳng. Hệ thống các ngôi làng pueblos blancos một lần nữa thể hiện sự hiệu quả trong cách tấn công du kích, cái mà người Tây Ban Nha gọi là guerrilla. Người Pháp đã phải chịu thua người Tây Ban Nha trong cuộc chiến ấy.
Tây Ban Nha vào thời kỳ Phục Hưng được coi là vương quốc giàu có nhất Châu Ây nhờ khai thác các mỏ vàng từ thuộc địa bên Châu Mỹ. Rất nhiều vàng đã được vận chuyển rồi đưa đến Sevilla. Điều này đủ cho thấy sự thèm thuồng của những băng đảng cướp sống chui lủi ở các ngôi làng hẻo lánh xung quanh.
Chúng tận dụng lúc các phái đoàn chở vàng của nhà vua đi ngang qua trục đường hẻo lánh để tấn công chớp nhoáng và cướp vàng. Phương pháp đánh nhanh thắng nhanh với số lượng quân số ít dần dần trở thành một phương pháp quân sự khá phổ biến ở vùng Andalucia và được người Tây Ban Nha áp dụng rất nhuần nhuyễn trong quá trình bị giặc ngoại xâm chiếm đóng. Thật vậy, vào đầu thế kỷ XIX, quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Napoleon đang làm mưa làm gió tại cả Châu Âu. Người Pháp thừa thắng đã xâm chiếm Tây Ban Nha và lập một chế độ vua bù nhìn.
Người dân Tây Ban Nha đã thực hiện một cuộc kháng chiến anh dũng, chủ yếu dựa trên kiểu đánh du kích, lấy ít địch nhiều, lấy lợi thế địa bàn hiểm trở để đối chọi với quân đội Pháp vốn chỉ quen đánh dàn trận trên địa bàn bằng phẳng. Hệ thống các ngôi làng pueblos blancos một lần nữa thể hiện sự hiệu quả trong cách tấn công du kích, cái mà người Tây Ban Nha gọi là guerrilla. Người Pháp đã phải chịu thua người Tây Ban Nha trong cuộc chiến ấy.
Quay trở lại với Olvera, có thể nhận thấy rõ là trong ngôi làng Olvera này không có nhiều người trẻ. Đây cũng là điều tôi nhận thấy khi thăm ngôi làng Arcos de la Frontera trước đó. Già nhiều , trẻ ít, một vấn đề mà có lẽ nhiều quốc gia ven rìa Địa Trung Hải đều gặp phải. Vùng Andalucia nói chung và các ngôi làng này nói chung là vùng nghèo nhất của Tây Ban Nha. Ngoại trừ làm nghề nông, các ngôi làng kiểu như Olvera hầu như không có bất cứ hoạt động kinh tế nào khác đem lại nguồn thu cho người dân.
Những thế hệ trẻ không muôn tiếp tục công việc chân tay nên hoặc theo học đại học ở các thành phố lớn rồi kiếm kế sinh nhai tại đó, hoặc tìm cơ hội làm ăn ở nơi khác. Cho dù là những ngôi làng có nhiều thâm niên lịch sử và những nét văn hóa độc đáo, phải nói công bằng là họ không phải là một địa danh hút khách du lịch cỡ như Sevilla. Thi thoảng thì mới có du khách kiểu như tôi bén mảng đên đây mà cũng chẳng có đóng góp gì nhiều cho kinh tế địa phương. Đồ lưu niệm thì tôi không mua, chỉ ăn uống tí teo và nghỉ lại thôi. Đấy là còn may mà ngôi làng này có dịch vụ lưu trú chứ không thì chắc là tôi phải ngủ ngoài đường xó chợ. Trong số 5-6 cái tôi tìm được trên mạng thì có một cái rơi vào tầm 20 EUR, tuy rằng lò sưởi không hoạt động về đêm nhưng dù sao thì với 10 độ thì tôi vẫn chịu được. 20 EUR vẫn là một con số phải chăng.
NGÀY 4 : OLVERA / RONDA / GRENADA
Vì việc di chuyển của tôi phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống xe buýt liên tuyến giữa các ngôi làng, lịch trình tham quan của tôi được xây dựng dựa trên lịch khởi hành của xe buýt. Mặc dù điểm đến tiếp theo của tôi là Ronda không quá xa so với Olvera nhưng tôi buộc phải đi lòng vòng, bắt một chuyến từ Olvera đi Algodonales rồi từ đó bắt chuyến xe khác đi Ronda, tính tổng thời gian mất toi 2 tiếng trong khi khoảng cách đường chim bay chỉ tầm 60km.
Nhưng sự cố gắng đó hoàn toàn xứng đáng bởi Ronda là một trong “bộ tứ du lịch” của vùng Andalucia cùng với Sevilla, Grenada và Cordoba. Cõ lẽ cần phải giải thích một chút về sự may mắn của tôi khi đến Ronda vào dịp hạ điểm. Vùng Andalacia nói chung là điểm nghỉ hè của hầu như toàn bộ dân Châu Âu nhờ ánh nắng ấm quanh năm. Giai đoạn tháng 7-8 được coi là giai đoạn khủng khiếp nhất khi hàng chục triệu du khách từ các quốc gia lân cận đổ bộ đến các bãi biển để nghỉ hè. Dải đất Costa del Sol được coi như biểu tượng của du lịch biển Châu Âu. Những vị du khách này sau một thời gian phơi nắng, quyết định đặt tour tham quan những vùng loanh quanh như một hình thức đổi gió. Ronda luôn là sự lựa chọn số một vì nằm không quá xa Costa del Sol. Hàng triệu lượt khách đăng ký các tour rẻ tiền và được nhồi vào một sư đoàn xe buýt 45 chỗ và ồ ạt đến Ronda trong khoảng thời gian từ 10h đến 15h. Vì lý do này, rất nhiều người dân địa phương đã gán cho Ronda cái tên “Disney-Ronda”. Tôi thật là may mắn đã không đến Ronda vào giai đoạn này, nếu không thì chắc là sẽ bị đoàn quân du khách đè bẹp ruột.
Nhưng sự cố gắng đó hoàn toàn xứng đáng bởi Ronda là một trong “bộ tứ du lịch” của vùng Andalucia cùng với Sevilla, Grenada và Cordoba. Cõ lẽ cần phải giải thích một chút về sự may mắn của tôi khi đến Ronda vào dịp hạ điểm. Vùng Andalacia nói chung là điểm nghỉ hè của hầu như toàn bộ dân Châu Âu nhờ ánh nắng ấm quanh năm. Giai đoạn tháng 7-8 được coi là giai đoạn khủng khiếp nhất khi hàng chục triệu du khách từ các quốc gia lân cận đổ bộ đến các bãi biển để nghỉ hè. Dải đất Costa del Sol được coi như biểu tượng của du lịch biển Châu Âu. Những vị du khách này sau một thời gian phơi nắng, quyết định đặt tour tham quan những vùng loanh quanh như một hình thức đổi gió. Ronda luôn là sự lựa chọn số một vì nằm không quá xa Costa del Sol. Hàng triệu lượt khách đăng ký các tour rẻ tiền và được nhồi vào một sư đoàn xe buýt 45 chỗ và ồ ạt đến Ronda trong khoảng thời gian từ 10h đến 15h. Vì lý do này, rất nhiều người dân địa phương đã gán cho Ronda cái tên “Disney-Ronda”. Tôi thật là may mắn đã không đến Ronda vào giai đoạn này, nếu không thì chắc là sẽ bị đoàn quân du khách đè bẹp ruột.
Quay trở lại với chuyến viếng thăm Ronda, tôi có cảm giác như mình đang đi xuôi theo dòng lịch sử, trong cuộc chiến khốc liệt hơn 400 năm giữa các vương quốc Thiên Chúa giáo phía bắc và Hồi giáo phía nam. Theo đúng như diễn biến của lịch sử, đường biên giới giữa hai thế lực đối lập dần dần thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho người Hồi giáo. Họ lần lượt để mất các thành trì vào tay các vị vua Tây Ban Nha.
Ngay cả những ngôi làng pueblos blancos, vốn dĩ là một vành đai phòng thủ kiên cố dọc biên giới, cũng lần lượt thất thủ. Chúng ta đang ở năm 1485, gần như là giai đoạn cuối của cuộc giao tranh. Thành Ronda, tấm bình phong cuối cùng của vương quốc Hồi giáo Granada thất thủ vào năm ấy. Rồi 7 năm sau, 1492, thành đến lượt thủ phủ Grenada quy hàng, triều đại các vị vua Hồi giáo Nasride chấm dứt, đánh dấu hồi kết cho sự hiện diện của người Hồi giáo trên đất Tây Ban Nha.
Trong số tất cả các ngôi làng pueblos blancos mà tôi đã thăm, Ronda thể hiện sự nổi trội trên phương diện phòng thủ kiên cố. Cũng được xây trên vách đá treo leo ở độ cao lên đến 700m, Ronda trở nên hiểm trở hơn vì thành trì được ngăn làm hai bởi con sông Tajo và được bao bọc bởi hệ thống thành lũy rất kiên cố.
Tôi xâm nhập thành Ronda từ phía nam, nơi vẫn còn tồn tại hệ thống thành lũy từ thời Trung Cổ. Đây chính là khu vực mà người dân địa phương vẫn thường gọi là Ciudad. Vốn dĩ là quần thể phố tồn tại từ thời kỳ các vương quốc Hồi giáo, đây cũng chính là khu vực giữ nguyên những nét đặc thù của một ngôi làng pueblo blanco mà tôi nói ở trên.
Vẫn là những con phố nhỏ ngoằn nghoèo và hai bên là những ngôi nhà nho nhỏ san sát, tường sơn trắng muốt. Nói chung, quần thể các ngôi nhà rồi khu phố ở đây không có nhiều điểm khác so với hai ngôi làng Arcos de la Frontera và Olvera mà tôi thăm trước đó.
Vẫn cái kiểu một nhà thờ Hồi giáo cũ tọa lạc ngay giữa một quảng trường trung tâm rồi sau đó bị quân đội Thiên Chúa giáo cho san phẳng rồi cho xây một nhà thờ Công giáo mới. Đối với Ronda, đó là nhà thờ Santa Maria La Mayor.
Nếu như phải liệt kê ra điểm khác biệt giữa Ronda và hai ngôi làng kia thì có lẽ phải kể đến vai trò phòng thủ của nó quan trọng hơn. Vì là chốt chặn cuối cùng án ngữ trước kinh đô Granada, Ronda được bố trí một vị tổng chấn để cai quản quân đội. Vị tổng trấn này cần phải túc trực thường xuyên nên hay được bố trí ở trong một cung điện ngay trong trung tâm. Cung điện ấy là Palacio de Mondragón Đây vốn dĩ là nơi ở của các vị tổng trấn Ảrập.
Toàn bộ quần thể kiến trúc có quy mố khá khiêm tốn nhưng những chi tiết bên trong đủ để làm toát lên phong cách kiến trúc mudéjar đặc trưng và tôi thấy có nhiều điểm tương đồng với cung điện Casa de Pilatos ở Sevilla. Vẫn là các sảnh không gian patio và các khu vườn mini, tạo cảm giác thoáng đãng và mát mẻ cho người ở, dưới cái nóng của mùa hè. Tôi chủ yếu tập trung tham quan các gian phòng khác nhau chứ không xem viện vảo tàng mini ở đây.
Đi một hồi xong, bỗng nhiên trước mặt tôi là một vực thẳm rất sâu và ngay dưới đó là con sông Rio Guadalevin. Quả là danh bất hư truyền!
Thành trì Ronda thật sự là rất hiểm trở. Chẳng vì thế mà ngay từ thời La Mã, Ronda đã được chọn làm một trong hơn một chục thành trì chặn dọc biên giới để quản lý cả một lãnh thổ Tây Ban Nha rộng lớn.
Ngay từ thời ấy, quân đội La Mã đã cho xây một cây cầu có tên là Puente Viejo như là một kênh liên lạc đường bộ duy nhất giữa thành Ronda và thế giới bên ngoài. Thế rồi khi người Ảrập xâm chiếm Tây Ban Nha vào thế kỷ VII, họ định cư lâu dài ở đây và cho xây thêm cây cầu Puente Arabo vào đầu thế kỷ XII.
Tuy nhiên, cả hai cây cầu này tuy bắc qua sông Rio Guadalevin nhưng mới chỉ dừng lại ở độ cao không mấy cheo leo. Mức độ hiểm trở ở mức đỉnh điểm khi tôi tiếp cận cây cầu thứ ba bắc qua có tên là Puente Nuevo. Trong tiếng Tây Ban Nha, puente nuevo có nghĩa là “cây cầu mới”, như là một sự so sánh với puente viejo, “cây cầu cũ” được xây từ thời La Mã. Nói là mới nhưng Puente Nuevo cũng đã có hơn 300 năm tuổi rồi vì nó được xây vào cuối thế kỷ XVIII. Đây là một trong những địa danh du lịch được chụp ảnh nhiều nhất Châu Âu, không chỉ vì cái đẹp về mặt thẩm mỹ mà còn vì công nghệ xây dựng ở đẳng cấp cao.
Puente Nuevo ngoài chức năng là một cây cầu còn có một khu vực được dùng làm nhà tù. Các song sắt được thiết lập nhằm ngăn chặn các tử tù vượt ngục rồi nhảy xuống để trốn. Thực ra thì tôi không nghĩ họ nhảy xuống thì sẽ thoát được bởi Puente Nuevo bắc ngang qua một con vực với độ sâu 170m.
Có thể nói, mặc dù đã có sự hiện diện của hai cây cầu được xây trước đó là Puente Viejo và Puente Arabo, Puente Nuevo mới là cây cầu biểu tượng của Ronda. Nó nối một bên là phần thành cổ Ciudad tồn tại từ thời Hồi giáo nằm ở phía nam, và phần khu phố mới với cái tên Mercandillo nằm ở phía bắc.
Sau khi những vị vua Tây Ban Nha tái chiếm lại Ronda vào năm 1485, khu vực phố mới này ít nhiều đã được hình thành. Vào thời bấy giờ, dân cư ở khu vực này chủ yếu là tổ hợp các hộ gia đình tiểu thương hoặc thợ thủ công theo Thiên Chúa giáo. Tại sao họ lại tập trung sống ở đây thay vì sống trong trung tâm phố cổ Ciudad? Nguyên nhân chính là ở chính sách phân biệt đối xử của chính quyền Hồi giáo địa phương đối với cộng đồng các tín đồ không phải là Hồi giáo.
Những người theo Thiên Chúa giáo, mặc dù được tha mạng sống, họ vẫn phải chịu khá nhiều thiệt thòi nếu muốn tồn tại trong sào huyệt Hồi giáo. Để được yên thân, họ sẽ có hai sự lựa chọn : hoặc cải đạo theo Hồi giáo hoặc giữ nguyên tôn giáo cũ nhưng phải nộp tô thuế rất nặng nề. Tùy theo khoảng cách xa hay gần so với trung tâm phố cổ mà số lượng tô thuế sẽ tăng giảm, sống càng xa trung tâm thì số tiền cống nộp càng giảm. Đó là lý do vì sao những thợ thủ công hay tiểu thương Thiên Chúa giáo rủ nhau chuyển đến sống ở khu phố mới bên kia sông Rio Guadalavin.
Chỉ cần đi từ bên này cầu sang bên kia cầu, tôi có thể cảm nhận được sự khác biệt về văn hóa giữa hai khu phố. Đối với khu phố Hồi giáo Ciudad, đó là những ngõ ngánh khúc khuỷu, còn đối với khu phố mới Mercandillo, đó là sự quy hoạch bài bản của các con phố theo hình bàn cờ. Đại đa số các công trình kiến trúc ở đây đều hình thành trong khoảng thế kỷ XVII-XVIII. Đây chính là giai đoạn thành Ronda phát triển rực rỡ và cũng là giai đoạn mà Ronda cho ra lò một thứ đã làm nên thương hiệu của thị trấn : đấu bò tót. Trong khu vực phố mới này, địa danh nổi bật nhất chính là đấu trường bò tót Plaza de Toros.
Nền móng gốc của Plaza de Toros được xây dựng vào thế kỷ XVI dưới triều đại vua Philippe II, như là một nơi huấn luyện binh mã đặc biệt là kỵ binh. Vì thế nên người ta mới nói đấu trường bò tót ở Ronda lâu đời nhất thế giới. Tuy nhiên, phải nói rằng vào thế kỷ XVI thì món đấu bò tót chưa thực sự là món ăn tinh thần của người Tây Ban Nha.
Phải đợi đến đầu thế kỷ XVIII, những luật chơi và kỹ thuật đấu bò tót mới chính thức được thiết lập và người cha đẻ của nó là Francisco Romero, sinh ra tại chính Ronda vào khoảng 1754. Sự khác biệt lớn nhất giữa trường phái đấu bò tót của Romero và truyền thống trước đó biểu hiện ở vai trò của đấu sỹ.
Xưa kia, người ta chủ yếu dùng kỵ binh để giao chiến với bò tót. Nhưng với Romero, đấu sỹ không còn ngồi trên lưng ngựa nữa mà một mình giao chiến với bò tót. Kể từ thời ông này, đấu sỹ bò tót được cả nước công nhận như một nghề chuyên nghiệp và được sự bảo hộ của hoàng gia. Cũng vào thời kỳ này, chính xác là vào năm 1785, quần thể kiến trúc của đấu trường Plaza de Toros được cải tiến trên nền móng cũ để có được dáng vẻ như ngày hôm nay với khán đài 2 tầng vây quanh hình ô-van. Không rộng lớn như đấu trường ở Sevilla, tại đây sức chứa chỉ đến 6000 người.
Sau khi ông Francisco Romero qua đời, dòng họ nhà Romero tiếp tục truyền thống đấu bò tót với hai thế hệ tiếp theo. Họ sáng lập ra trường đào tạo chuyên về đấu bò tót có tên là Escuela Rondeña và trường này vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay. Vì đã tham quan đấu trường bò tót ở Sevilla rồi nên thời gian tôi dành cho Plaza de Toros có phần ít hơn.
Tôi tiếp tục tham quan quảng trường Plaza de Soccoro, trái tim của khu phố mới. Những ngôi nhà xung quanh đều được xây vào những thế kỷ XVII-XVIII theo trường phái cổ điển, khác hẳn với vẻ mộc mạc của những dãy nhà trong khu phố cổ Ciudad.
Tham quan Ronda xong thì cũng đã vào tầm đầu giờ chiều. Tôi bắt chuyến xe buýt tiếp theo để đến Grenada. Một cảm giác giống như quân Thiên Chúa giáo vừa chinh phạt xong cửa ải Ronda và tiếp tục thẳng tiến đến sào huyệt Grenada của vương quốc Hồi giáo
























.jpg)



.jpg)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét