Tôi còn nhớ một kỷ niệm vào năm 2005 khi nhận được ba tấm bưu thiếp của cô bạn người Pháp khi cô ta đi du lịch Tây Ban Nha trở về. Ba tấm bưu thiếp đó liên quan đến ba địa danh nổi tiếng nhất của vùng Andalucia bao gồm: cung điện Alambra của thành phố Granada, nhà thờ Mezquita ở Cordoba và cung điện hoàng gia Alcazar ở Sevilla. Tôi đã phải thốt lên một câu: “Ôi sao mấy cái địa danh này có dáng vẻ giống Ảrập thế nhỉ?”. Lúc ấy là thời điểm mà tôi còn chưa có nhiều hiểu biết nên câu hỏi ấy đã không có đáp án trong một thời gian dài. Cho đến năm 2009, khi mà tôi bắt đầu tìm kiếm thông tin chuẩn bị cho những chuyến đi đầu tiên của mình sang Tây Ban Nha, thì từng bí mật lịch sử đã được mở ra. Tây Ban Nha có một đặc thù văn hóa rất riêng và khác biệt hoàn toàn so với các quốc gia Châu Âu khác. Điều này được giải thích bởi một số phận lịch sử mà chỉ Tây Ban Nha mới có: những mối quan hệ hiềm khích giữa các triều đại vua theo đạo Thiên Chúa giáo phía bắc với nền văn hóa Hồi giáo - Ảrập phía nam trong vòng 8 thế kỷ. Mối hiềm khích ấy đã được cụ thể hóa bằng chiến tranh và tất nhiên là giao lưu văn hóa. Sau khi các vị vua theo Thiên chúa giáo thống nhất được đất nước, nền văn hóa Hồi giáo - Ảrập vẫn duy trì được tầm ảnh hưởng toàn diện lên xã hội Tây Ban Nha đến tận bây giờ. Trong bài viết này, Thái balo chỉ tập trung đến tầm ảnh hưởng của văn hóa Hồi giáo trong nghệ thuật kiến trúc, cái mà người Châu Âu gọi là dòng nghệ thuật Mudejar.
Quay ngược trở lại vào khoảng thế kỷ 7-8 sau CN, đã xảy ra một làn sóng truyền bá Hồi giáo lớn chưa từng có trong lịch sử loài người. Từ đất nước Ảrập Xê-út xa xôi, những hậu duệ sùng đạo của thánh Mohamed đã tiến hành những cuộc truyền đạo quy mô lớn kèm theo sức ép quân sự. Đi đến đâu là họ "làm cỏ" đến đó, khởi đầu là Trung Đông, rồi tiến đến các nước Bắc Phi (Ai Cập, Libia, Algeria, Tunisia, Marốc) và cuối cùng vượt qua eo biển tràn lên Tây Ban Nha và tiến sâu đến tận miền nam nước Pháp. Sau khoảng hơn một thế kỷ diễn ra những cuộc truyền đạo như vậy, đến khoảng thế kỷ 8 sau CN, Hồi giáo về mặt cơ bản đã có một chỗ đứng khá vững chắc trong khá nhiều lãnh thổ mà nó đi qua. Trên khắp các vùng đất có dấu ấn quân sự của Hồi giáo, đã dần dần hình thành những vương quốc và bộ máy chính quyền dưới sự lãnh đạo của triết lý Hồi giáo. Trong số các quốc gia Châu Âu phải chịu ách thống trị của tôn giáo này, Tây Ban Nha là đất nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi vị trí địa lý nằm quá gần Bắc Phi, lãnh thổ được cho là “hang ổ” của người Ảrập và người theo đạo Hồi.
Trong suốt giai đoạn lịch sử kéo dài gần 8 thế kỷ, lãnh thổ nước Tây Ban Nha bây giờ bị chia cắt làm hai: nửa phía bắc thuộc về vương quốc Thiên Chúa giáo, nửa phía nam thuộc tầm kiểm soát của nhà nước Hồi giáo. Trong khoảng thời gian này đã xảy ra những cuộc giao tranh quân sự trong thế giằng co giữa hai trường phái tôn giáo đối lập nhau. Người Châu Âu thường gán cho giai đoạn lịch sử ấy với biệt danh La Reconquista, trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “chiếm lại”. Những nhà sử học phương Tây cho rằng những vùng đất phía nam Tây Ban Nha đáng lẽ thuộc quyền kiểm soát của thế giới Thiên Chúa giáo, và vì thế cần phải chiếm lại từ người Hồi giáo. Càng vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, quân đội của các vị vua Thiên chúa giáo phương bắc càng chiếm lợi thế và dần dần thôn tính các vương quốc Hồi giáo phía nam và thống nhất đất nước. Vào năm 1492, đúng năm mà Christopher Columbus tìm ra Châu Mỹ thì cũng là lúc người Tây Ban Nha hất cẳng những tên Hồi giáo cuối cùng khỏi lãnh thổ của mình.
Tuy rằng đã quét sạch bóng ảrập, tầm ảnh hưởng của nét văn hóa Hồi giáo vẫn còn vấn vương trên đất Tây Ban Nha thậm chí còn phát triển mạnh hơn. Tại sao vậy? Sau khi bình định xong vương quốc, rất khó có thể ổn định lại dân số ở các vùng được chiếm lại bởi người Tây Ban Nha đã đuổi đi hơn một nửa dân số là người ả rập và rất nhiều tín đồ Hồi giáo. Chính vì thế, chính quyền Tây Ban Nha buộc phải giữ lại một lượng người Hồi giáo nhất định và vẫn cho phép cộng đồng này giữ nguyên tôn giáo, ngôn ngữ và hệ thống luật lệ riêng. Những người này được gọi là Mudéjar, người Hồi giáo sống trong lòng lãnh thổ Thiên chúa giáo. Từ mudéjar bắt nguồn từ tiếng ảrập مدجّن , phát âm là mudayyan, được hiểu nôm na là “người được phép ở lại”. Rất nhiều trong số họ là những nghệ nhân điêu khắc, thợ nề, thợ mộc có điều kiện làm việc cho tầng lớp quý tộc và hoàng gia Tây Ban Nha và đã góp công lớn trong việc xây dựng và trang trí những công trình kiến trúc mà chúng ta còn thấy ngày nay.
Về mặt nhãn quan, dòng nghệ thuật Mudéjar dễ dàng được nhận biết qua việc sử dụng những vật liệu nổi bật như gạch nung, thạch cao, gỗ và gốm sứ để trang trí các bề mặt tường và cột. Đây là những mô típ xây dựng không tồn tại trong trường phái nghệ thuật gô-tích đang thịnh hành thời bấy giờ ở Châu Âu bởi người Thiên Chúa giáo chủ yếu sử dụng gạch và đá granit cho các công trình của họ.
Điểm nổi bật tiếp theo của nghệ thuật mudéjar là các kỹ thuật xử lý bề mặt các vật liệu kể trên (đẽo, gọt..) và việc áp dụng những họa tiết trang trí mang âm hưởng Hồi giáo lên bề mặt. Trong thế giới Hồi giáo, hầu như không bao giờ có bất cứ họa tiết trang trí nào miêu tả hình dáng con người hay súc vật bởi kinh Coran của tôn giáo này cấm kỵ điều đó. Điều này lý giải tại sao các nét điêu khắc lên bề mặt các công trình kiến trúc Hồi giáo chủ yếu được thể hiện dưới dang cây hoa lá cành. Người Hồi giáo sử dụng thế giới thực vật như là một phép ẩn dụ để miêu tả thánh Allah.
Ngoài các mô-típ cây hoa lá cành, người ta cũng sử dụng khá nhiều biểu tượng khối hình học (ngôi sao, hình bình hành, chữ nhật,...) để trang trí bề mặt tường, đặc biệt là ở các bức tường ngăn gian phòng bên trong khuôn viên một công trình.
Các cột vòm được thiết kế theo kiểu hình móng ngựa với các vật liệu xây dựng là gạch nung, gốm sứ, và giả cẩm thạch. Kiểu dáng này mang đậm ảnh hưởng của nét kiến trúc có xuất xứ từ Trung Đông. Thật vậy, theo đúng lịch sử, một triều đại Hồi giáo ở Syria có tên là Omeyyad đã từng thống trị thế giới Hồi giáo ở Trung Đông trong suốt thế kỷ 7-8 với thủ đô là Damascus. Sau khi bị một triều đại Hồi giáo khác là Abbaside (đến từ Irắc) lật đổ, hoàng thân Omeyyad trốn chạy tị nạn sang các nước lân cận, chạy dọc theo Bắc Phi rồi lưu vong sang tận miền nam Tây Ban Nha và thành lập ra một vương quốc Hồi giáo nhỏ tại đây.
Ngoài sự tinh xảo trong điêu khắc lên bề mặt tường, dòng kiến trúc Mudéjar còn rất quan tâm đến sự hài hòa giữa khối kiến trúc nhà cửa với môi trường thiên nhiên xung quanh. Trong các công trình kiến trúc kiểu này, luôn xuất hiện đâu đó một khoảnh vườn hay một đài phun nước và điều đó làm cho du khách giảm bớt cảm giác nóng nực mùa hè. Thêm một lần nữa, chúng ta thấy rằng phong cách kiến trúc này vẫn mang âm hưởng của cái gì đó rất “Trung Đông”. Thật vậy, như các bạn biết, ở những quốc gia thuộc khối Trung Đông như Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Jordan, Ai Cập… hình ảnh đất đai cằn cỗi và sa mạc luôn có ở khắp nơi. Trong những điều kiện khắc nghiệt và nóng nực như vậy, chỉ một đài phun nước nhỏ hay một bụi cây thôi sẽ khiến cho con người ta cảm thấy mát mẻ hơn. Ở một lãnh thổ mà đất đai cũng cằn cỗi và nóng nực như Andalucia, có lẽ những vị tiền bối Hồi giáo cảm thấy có một điều gì đó rất gần gũi với cội nguồn Trung Đông của họ. Điều này gián tiếp giải thích vì sao họ tái hiện một phần cái chất Trung Đông ấy ở miền nam Tây Ban Nha.
Theo các chuyên gia phân tích nghệ thuật, trường phái nghệ thuật Mudéjar xuất hiện thực sự vào thế kỷ 12 và phát triển đến thế kỷ 16, tức là đúng vào thời kỳ giao thoa giữ thời Trung Cổ và Phục Hưng. Đây là 4 thế kỷ phát triển mạnh nhất của trường phái nghệ thuật này cho dù sau này một số công trình mới có dùng những mô típ trang trí mudéjar.







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét