Hồi ký du lịch vùng Andalucia 2009 (Phần 1)



Hôm nay, những âm hưởng da diết của bài hát Hay Amor (Shakira) bỗng khiến tôi nhớ đến hành trình khám phá vùng Andalucia miền nam Tây Ban Nha. Âm hưởng guitar cổ điển cùng với giọng hát đặc trưng của nữ ca sĩ Colombia khiến tôi không khỏi liên tưởng đến dòng nhạc flamenco  mà quê hương của nó chính là vùng Andalucia nói trên. Điều này đã thôi thúc tôi phải ra lò một hồi ký về chuyến đi 1 tuần đến vùng đất này, một vùng đất mà tôi cho rằng có rất ít người Việt Nam biết đến. Ở đất nước ta, có lẽ thương hiệu Tây Ban Nha đã quá gắn liền với giải bóng đá La Liga, với FC Barcelona và Real Madrid. Cái bóng của hai câu lạc bộ này bao trùm lên toàn bộ quốc gia Tây Ban Nha và dường như làm lu mờ tất cả những bản sắc văn hóa còn lại của đất nước này.  

Tôi được biết hàng năm có không ít khách du lịch Việt Nam đi sang Tây Ban Nha dưới dạng tour nhưng có thể dễ dàng nhận thấy lịch trình du lịch sang xứ sở bò tót rất sơ sài, cùng lắm chỉ gói gọn du lịch trong Madrid và Barcelona. Lướt qua hàng loạt tour du lịch châu Âu có liên quan đến Tây Ban Nha, tôi nhận thấy rằng đại đa số là tour liên tuyến Pháp – Ý – Tây Ban Nha. Sự sơ sài của tour này đã khiến không ít du khách cảm thấy thất vọng về nước Tây Ban Nha hoặc không có kỷ niệm nào sâu sắc khi ghé qua quốc gia này. Và tôi cảm thấy đó là một điều đáng tiếc. Tây Ban Nha không chỉ gói gọn ở Madrid và Barcelona, và tôi còn có thể khẳng định rằng nền móng góp phần tạo nên nền văn hóa Tây Ban Nha ngày nay không nằm ở hai thành phố này mà lại ở một vùng đất khác nằm ở phía nam : Andalucia. Bằng chứng ư? Các bạn thừa biết Tây ban Nha là xứ sở của món đấu bò tót và điệu nhảy flamenco đúng không? Xin thưa với các bạn rằng quê hương của hai truyền thống này chính là ở những ngôi làng nằm ở phía nam Tây Ban Nha hay vùng Andalucia ngày nay. Madrid và Barcelona có thể là hiện thân của Tây Ban Nha đương đại, nhưng Andalucia mới là nguồn gốc của nền văn hóa Tây Ban Nha. À còn quên một điều nữa. Hẳn các bạn đều biết Christophe Columbus, người tìm ra Châu Mỹ đúng không? Andalucia chính là điểm xuất phát của rất nhiều con tàu tìm đến lục địa mới, đánh dấu một trang sử vàng mới cho những triều đại Tây Ban Nha vào thế kỷ 15. Và tôi sẽ còn có nhiều dẫn chứng nữa, đủ để chứng minh rằng vùng Andalucia xứng đáng chiếm vị trí quan trọng hơn trong sự lựa chọn điểm đến của bạn thay vì lúc nào cũng chăm chăm đi chụp ảnh tự sướng trước sân vận động Nou Camp hay Bernabeu.

Chuyến đi của tôi được tiến hành vào dịp lễ Giáng Sinh năm 2009, với mục đích tránh cái lạnh -5 độ ở Paris và tận hưởng nắng ấm dịu dàng ở Tây Ban Nha, 15 độ. Tôi không chọn vùng Andalucia một cách ngẫu nhiên bởi trước khi quyết định đặt vé máy bay, tôi đã có một thời gian rất dài trau dồi kiến thức về điểm đến. Mặc dù không biết tường tận những điểm đến nhưng tôi nắm khá rõ những đặc thù của Andalucia, gián tiếp qua việc thực tập trong một công ty lữ hành Pháp hay việc đọc sách và xem phim.

Hành trình du lịch trải nghiệm của Thái balo tôi được xây dựng xoay quanh bộ ba thành phố Sevilla – Cordoba – Grenada. Sở dĩ có sự lựa chọn như vậy là vì cả ba thành phố này đều là những địa danh  đại diện cho văn hóa Tây Ban Nha. Điều đầu tiên mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó là tầm ảnh hưởng của văn hóa Hồi giáo - Ảrập trong văn hóa Tây Ban Nha, và nơi chịu ảnh hưởng mạnh nhất chính là lãnh thổ của vùng Andalucia ngày nay.

NGÀY 1 : PARIS / SEVILLA
Thành phố Sevilla là điểm đến đầu tiên của tôi do có chuyến bay trực tiếp từ Paris của hãng hàng không giá rẻ Transavia. Tôi đáp đến sân bay San Pablo (cách trung tâm 12km về phía bắc) vào tầm đầu giờ chiều và chỉ tầm gần 2 tiếng sau là tôi đã có mặt ở nhà nghỉ hostel. Chương trình của ngày đầu tiên trên đất Andalucia không quá nặng, chỉ đơn thuần là một cuộc tản bộ nhẹ nhàng khám phá dọc theo con sông Guadalquivir để cảm nhận một quá khứ hào hùng của Sevilla. Với lợi thế nằm gần biển, thành phố này đạt đến đỉnh điểm của sự phồn vinh bắt đầu từ cuối thế kỷ 15, thời điểm mà người Tây Ban Nha tìm ra Châu Mỹ và liên tiếp phái các đoàn tàu thám hiểm sang lục địa mới để tìm kiếm vàng bạc châu báu. Hàng trăm con tàu xuất phát từ Sevilla sang những mỏ vàng như Peru, Mexico rồi quay trở về chất hàng núi vàng dọc theo cảng của thành phố. Nhờ làm chủ về con đường vận chuyển vàng bằng đường biển, Sevilla trở lên giàu có, giàu đến mức đã từng có một bài hát dân gian địa phương nói ví von rằng : “ai chưa từng tận mắt nhìn thấy Sevilla thì coi như chưa nhìn thấy kỳ quan thế giới


Bức tranh của họa sĩ Antonio Sanchez Coello miêu tả cảng Sevilla vào đầu thế kỷ 16, một thành phố phồn vinh phất lên nhờ vàng từ Châu Mỹ


Mới đặt chân đến Sevilla hôm đầu tiên thì tôi chưa thể kiểm chứng được liệu câu nói trên có thật hay không. Chỉ biết rằng khi tản bộ dọc theo con sông Guadalquivir, có lẽ chỉ còn lại một di tích lịch sử duy nhất có thể là nhân chứng cho quá khứ hào hùng của Sevilla, đó là tòa tháp Torre del Oro, trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “tòa tháp vàng”. Đây được coi như một trong những địa danh nổi tiếng nhất của Sevilla và dễ dàng được nhận thấy từ xa.

Đây thực ra là di tích mang đậm chất Ảrập nhiều hơn là Tây Ban Nha và chính cái tên Tây Ban Nha cũng được dịch từ tên gọi gốc ả rập của nó: Borg al-Azajal. Sở dĩ gọi là tòa tháp vàng vì người ta đồn rằng lớp vỏ bọc của tòa tháp từng được dát vàng và mỗi khi ánh nắng rọi vào thì nó lại lung linh soi bóng lên dòng sông. Torre del Oro được xây dựng bởi người Hồi giáo, vào thời kỳ mà toàn bộ miền nam của Tây Ban Nha nằm trong tầm kiểm soát của các triều đại Ảrập – Hồi giáo. Vào thời điểm ấy, Sevilla là một thành trì với lớp tường phòng thủ dọc theo sông Guadalquivir và Torre del Oro là một trong rất nhiều tháp canh được xây lên với mục đích phát hiện những mối nguy hiểm từ xa. Khi các nhà vua Tây Ban Nha theo đạo Thiên Chúa từ phía bắc Tây Ban Nha đem quân xuống đánh vương quốc Hồi giáo - Ảrập, họ đã lần lượt đánh phá dữ dội lớp tường thành này khiến cho nó bị phá hủy gần hết. Những nhà sử học cho rằng để kiên cố thêm hệ thống phòng thủ, quân đội Hồi giáo có thể đã xây một tòa tháp giống hệt như Torre del Oro và đặt ở bên kia dòng sông Guadalquivir rồi nối hai tòa tháp với nhau bằng một hệ thống dây xích dưới lòng sông nhằm mục đích ngăn chặn không cho tàu chiến của quân địch tiến sâu hơn vào thành. Tuy nhiên, hệ thống này đã không chống đỡ nổi quân đội Thiên Chúa giáo bởi họ có kỵ binh và những cỗ máy chiến tranh được trang bị tốt hơn đủ sức công phá thành. Sau cùng, chỉ còn trơ chọi lại tòa tháp Torre del Oro là di tich duy nhất minh chứng sự tồn tại của một vương quốc Hồi giáo trong lòng Tây Ban Nha trong suốt 8 thế kỷ.   

Dựa vào sự sót lại của tòa tháp Torre del oro, chúng ta được biết dòng sông Guadalquivir là biên giới tự nhiên giữa một bên là nội thành Sevilla với hệ thống cung điện và thành trì, còn bên kia là nơi ở dành cho những tầng lớp lao động và thủy thủ hoặc những phái đoàn tàu biển đến từ những vương quốc khác. Dựa trên sự phân chia ấy, bên phải sông là “nội thành” và bên trái là “ngoại thành”. Sau một hồi tản bộ bên lề phải của sông, tôi băng qua cầu và du lịch khám phá khu phố Triana nằm bên lề trái.

Lý do tôi chọn ghé thăm khu phố Triana là bởi đây được cho là khu phố mang “cái hồn Sevilla” nhiều nhất. Tại sao lại nói như vậy? Bởi vùng Andalucia nói chung và thành phố Sevilla nói riêng thường được gán với hình ảnh của tầng lớp hạ lưu trong xã hội Tây Ban Nha. Đó là tầng lớp của giới công nhân lao động chân tay và của dân nhập cư tứ xứ. Lịch sử phát triển của khu phố Triana bao gồm tất cả yếu tố này, ban đầu là nơi ở của những thợ gốm và thủy thủ, và vào những thế kỷ 18-19 là nơi ở của cộng đồng người Zigan. Và chính nhờ cộng đồng này, thấm sâu trong những ngõ ngách và những ngôi nhà tạm bợ của những con người được cho là “nghèo”, đã sản sinh ra hai truyền thống mà sau này trở thành thứ cốt lõi của thương hiệu Tây Ban Nha : điệu nhảy flamenco và đấu bò tót. Kỳ lạ thay, trước khi trở thành một thứ mà dường như mọi tầng lớp xã hội Tây Ban Nha tôn sùng, flamenco và đấu bò tót đều được thể hiện bởi những huyền thoại có nguồn gốc nghèo khổ, sống trong những khu phố ổ chuột như Triana thời bấy giờ.


Trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử, cộng đồng Zigan ngày nay không còn nhiều nữa. Những khu nhà ổ chuột đã được phá bỏ và thay vào đó là hàng loạt quầy bar dọc theo bờ sông. Chỉ còn lác đác đây đó những bờ tường hay cửa hàng bán các thể loại đồ làm bằng gốm sứ, bằng chứng cho sự phát triển của nghề này của Triana. 

 Đúng vậy, nói đến Triana, có lẽ phải nói đến truyền thống sản xuất sành sứ dưới dạng các phiến đá được trang trí bài tiết sặc sỡ để ốp lát lên tường. Đây là phong cách trang trí rất đặc trưng ở Tây Ban Nha và cả ở nước Bồ Đào Nha láng giềng. Bạn có thể thấy phong cách này rất phổ biến ở bề ngoài các ngôi nhà. 

 Tọa lạc giữa quảng trường Altozano là pho tượng Juan Belmonte (1892-1962) huyền thoại đấu sĩ bò tót được cho là người sáng lập ra trường phá nghệ thuật đấu bò tót hiện đại. Khu phố Triana chính là nơi sản sinh ra rất nhiều đấu sĩ bò tót thuộc hàng kiệt xuất nhất Tây Ban Nha
 Kết thúc xong kho phố Triana thì cũng là lúc trời xẩm tối, thời điểm thích hợp để kiếm một chỗ ăn tối. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu như bạn đến Sevilla mà không có nổi một lần trải nghiệm thử một bữa tối mà chỉ toàn ăn ở các quầy bar tapas. Bắt đầu từ 18h , một bộ mặt khác của Sevilla lộ ra, đó là sự nhộn nhịp của các quầy bar khi mà người dân địa phương kết thúc ngày làm việc ở công sở và cùng nhau lui tới các quán nhậu trước khi về nhà.


Truyền thống đi quán bar tapas xuất hiện trong xã hội Tây Ban Nha bắt nguồn từ thế kỷ 15. Vào thời bấy giờ, tất nhiên thói quen ẩm thực của người dân không giống như bấy giờ. Nơi mà họ gọi là quầy bar tapas ngày nay chỉ đơn thuần là một quán rượu không hơn không kém. Người dân đến đó chủ yếu là để uống rượu vang với những chiếc cốc rất to. Vì điều kiện vệ sinh hồi ấy còn kém nên ruồi nhặng hay xuất hiện trong các quán rượu và hay “làm phiền” các vị khách bằng cách chui tọt vào cốc rượu. Để tránh sự phiền toái này, người ta sử dụng một chiếc đĩa đặt lên mặt cốc để không cho ruồi chui vào trong. Chính vì chức năng đậy nắp để không cho ruồi vào này mà từ tapas được sử dụng. Trong tiếng Tây Ban Nha, tapas có nghĩa là “nắp vung”. Theo dòng thời gian, nhiều khách hàng cho rằng nên để trên chiếc đĩa này thêm một số thứ để nhâm nhi. Và thế là đi cùng với cốc rượu, các vị khách lại có thêm cả miếng bánh mì, lát thịt nguội để nhâm nhi. Kể từ đó, ý tưởng uống rượu vang + ăn kèm những thứ linh tinh được chia thành từng miếng nhỏ (khoanh bánh mì, lát thịt nguội, phô mai, lát cà chua, ….) đã được hình thành và trở thành một truyền thống ở những vùng phía nam Tây Ban Nha rồi lan rộng thành một truyền thống quốc gia.

Sevilla bắt đầu từ thế kỷ 15 đã trở thành kinh đô thực sự của tapas với sự đổi mới không ngừng của các loại món ăn đặt trên bàn. Với lợi thế là trạm chung chuyển giữa Tây Ban Nha và Châu Mỹ, những con tàu từ thế giới mới mang về cho nước Tây Ban Nha đại lục khá nhiều thành phần thực phẩm mới như : cà chua, ớt,…Người dân Sevilla đã biết cách pha trộn những nguyên liệu mới này với những món ăn cũ tồn tại từ thời Trung Cổ để tạo ra những món ăn mới lạ lẫm hơn, góp phần làm tăng sự phong phú tại các quầy tapas.

Ở những quốc gia Nam Âu nằm gần Địa Trung Hải như Tây Ban Nha, khí hậu ấm áp quanh năm nên người Tây Ban Nha thường có thói quen ăn tối rất muộn, tầm từ 9h đến 11h tối. Vì thế, trong lúc chờ đến giờ ăn cơm thì chắc chắn là nhiều người sẽ đói bụng và muốn ăn một cái gì đó lót dạ. Vì lý do này, vai trò của việc đi đến quầy bar tapas càng được nhấn mạnh hơn bởi tại đây, họ chỉ phải ăn nhâm nhi một vài món với số lượng nhỏ đến lưng bụng để về nhà ăn cơm là vừa. 
 Tại thành phố có đến hơn 4000 quán bar tapas như Sevilla, cứ vào tầm xế chiều thì mọi người đổ xô đi đến các khu phố quen thuộc, trong đó phải kể đến khu phố Santa Cruz . Bởi vì khoảng cách giữa các quán bar tapas quá ngắn, chỉ chừng vài chục mét nên đã hình thành lên một nét văn hóa rất đặc trưng của người Tây Ban Nha : tapear hay còn gọi là “làm một vòng các quán bar”


Thông thường, vì lý do tất cả các quán bar vào giờ cao điểm rất đông người nên những vị khách sẽ phải đứng dọc theo quầy hoặc cạnh các chiếc bàn cũng được thiết kế đặc biệt cho trường hợp này. Là nơi để các nhóm bạn bè, đồng nghiệp tụ tập, quán bar tapas là nơi để xả stress nên việc du khách phải trải nghiệm những tiếng ồn ào là chuyện bình thường. 

 Ngày nay, các khẩu phần món ăn kèm cùng rất đa dạng và phần lớn các nguyên liệu đều là những sản phẩm đặc trưng đến từ Địa Trung Hải : dầu ô liu, cá, tỏi, hải sản, cà chua…Với sự có mặt của hơn chục món cùng một lúc, việc đến một quầy bar tapas cho phép bạn có thể thưởng thức nhiều món khác nhau thay vì phải trả tiền chỉ để ăn một đĩa to đùng. 

 Trong số vô vàn món ăn được phục vụ ở quầy tapas, có một số món nổi tiếng và phổ thông hơn những món khác. Đầu tiên phải kể đến món thịt nguội Iberico de Bellota, được chế biến từ giống lợn đen chỉ sống trên đất Tây Ban Nha.

Một điểm nổi bật mà tôi nhận thấy ở các quán tapas, đó là sự nổi trội của những món ăn liên quan đến thịt hoặc phô – mai, rất hiếm khi có một món nào làm 100% từ rau quả. Vì thế, đối với những khách hàng kiêng thịt và ăn chay, việc tìm kiếm một quán chỉ phục vụ những món không thịt không dễ chút nào.

Vậy là trong buổi tối đầu tiên, tôi làm một lèo 6 quán bar tapas khác nhau trong vòng 3 tiếng rồi mới về khách sạn ngủ. 

Unknown

Phasellus facilisis convallis metus, ut imperdiet augue auctor nec. Duis at velit id augue lobortis porta. Sed varius, enim accumsan aliquam tincidunt, tortor urna vulputate quam, eget finibus urna est in augue.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét