NGÀY 3 : PORTO / OTA / EVISA / CORTE
Bắt đầu từ vịnh Porto, tôi bắt đầu đi sâu vào trong đảo, nơi mà những truyền thống thực sự của đảo Corse bắt đầu lộ dần. Hành trình của ngày hôm nay cũng là một chặng đường cuốc bộ khoảng 22km, vất vả hơn hôm trước rất nhiều vì càng đi sâu vào đảo, tôi càng phải men theo sườn đồi theo chiều cao dần. Mục đích chính của chặng đường này ngoài việc khám phá một kiểu phong cảnh khác hẳn với hôm trước thì còn là tham quan một vài ngôi làng truyền thống nữa. Các ngôi làng đã gọi là truyền thống thì chắc chắn chúng sẽ nằm ở những vị trí khó khăn với mục đích trốn tránh sự tấn công từ rìa biển. Do đó, những ngôi làng sẽ nằm ở độ cao, ven sườn đồi. Trên đảo Corse thì cũng có khá nhiều ngôi làng, chỗ thì nằm sâu thẳm trong rừng, chỗ thì nằm trọn trong núi, nói chung là rất hiểm trở và không phải lúc này dân trekking có thể tiếp cận được. Trục đường mà tôi chọn có lẽ thuộc loại dễ xơi hơn vì dù sao thì hai ngôi làng tôi thăm có tên là Ota và Evisa đều có thể được nhờ có tuyến xe buýt. Cũng phải nói rằng tôi mất khá nhiều thời gian trao đổi email với trung tâm tư vấn du lịch của thị trấn Porto để có những lời khuyên hữu hiệu nhất. Ngoài ra, trước khi đến đảo Corse thì tôi đã đặt mua trước tấm bản đồ trekking, nhờ đó không gặp mấy khó khăn trong hành trình của mình.
Lịch sử đảo Corse gắn liền với những cuộc xâm lăng từ biển, bởi vị trí địa lí của nó nằm ở nơi giao thoa giữa nhiều thế lực hàng xóm như Pháp, Tây Ban Nha, Ý và Bắc Phi. Để tránh khỏi sự tấn công từ biển, người dân nơi đây đã phải từ bỏ những ngôi làng nằm ven biển và lùi sâu sống ẩn dật trong những ngọn núi đồ sộ nằm giữa đảo bởi đó là lớp bảo vệ tự nhiên tốt nhất. Quá khứ biến động của những ngôi làng Corse khiến tôi nghĩ đến lá cờ phù hiệu đặc trưng của đảo với hình thủ cấp của một người da đen Châu Phi có đeo khăn.
Chắc chắn rất nhiều người sẽ thắc mắc tự hỏi tại sao trên lá cờ phù hiệu của một hòn đảo thuộc nền văn hoá phương Tây như đảo Corse lại có hình đầu người da đen Châu Phi. Để tìm lời giải thích, có lẽ phải nhìn vào lịch sử đầy biến động của hòn đảo này. Nhưđã giải thích ở trên, đảo Corse trong quá khứ luôn hứng chịu những đợt tấn công cướp bóc đến từ các thế lực xung quanh, đặc biệt là bọn cướp biển có nguồn gốc từ Bắc Phi nhưngười Maures. Sau mỗi cuộc giao tranh giữa hai bên, những chiến binh Corse thường có thói quen giết tù binh Maures, chặt đầu chúng rồi dùng giáo xiên đầu và treo trước cổng đảo để cho những nhóm cướp biển tiếp theo nhìn thấy, nhưlà một sự cảnh bảo rằng nếu tấn công đảo thì số phận của bọn chúng cũng sẽ kết thúc như những thủ cấp này.
Theo dòng thời gian, phong cách sống kiểu tự cung tự cấp và ẩn dật trong núi rừng là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời của truyền thống văn hoá đảo Corse với những ngôi làng địa thế hiểm trở và được bảo vệ bởi hệ thống phòng thủ dựa vào thiên nhiên. Ngay cả khi người Ý, với tiêu biểu là vương quốc Genova nắm quyền quản lý đảo Corse trong vòng vài trăm năm, họ cũng chỉ có thể nắm quyền kiểm soát ở các thị trấn cảng nằm ven đảo nhưng không làm cách nào để áp đặt được quyền lực của mình lên cộng đồng những ngôi làng nằm sâu bên trong đảo. Thế rồi khi đảo Corse chính thức sáp nhập vào nước Pháp vào nửa cuối thế kỷ 18, chính quyền Pháp cũng phải một thời gian rất dài, gần như 100 năm mới có thể áp đặt được nền văn hoá Pháp của mình, đặc biệt là trong việc áp đặt tiếng Pháp và hệ thống hành chính pháp luật kiểu Pháp. Sự chuyển giao quyền lực từ Ý sang Pháp giải thích một phần sự giao thoa không phải bàn cãi về mặt văn hoá trong con người Corse. Thế nhưng chỉ giải thích về chính trị và ngôn ngữ thôi thì chưa đủ để định nghĩa thế nào là văn hoá Corse. Cuộc sống chăn nuôi du mục của những ngôi làng là một đặc thù khác trong phong cách sống truyền thống của họ.
Chỉ cách Porto 4km, tôi không gặp mấy khó khăn để tiếp cận làng Ota, nằm ở độ cao 700m so với mực nước biển. Đây có thể coi là cổng vào chính thức của một thế giới bên trong đảo Corse, mà những ngôi làng là người gác đền bảo vệ những giá trị truyền thống. Làng Ota là một ví dụ điển hình cho lịch sử phát triển của đảo Corse. Những người dần trên đảo buộc phải đoàn kết thành từng ngôi làng nằm trú ẩn ở những địa thế hiểm trở và thường được lãnh đạo bởi một trưởng tộc để tiến hành các cuộc tự vệ vũ trang chống lại các thế lực bên ngoài. Chính vì nằm quá gần rìa biển, làng Ota trong quá khứ đã phải chịu nhiều đợt tấn công của người Genova và các toán cướp biển hơn nhiều so với những ngồi làng nằm sâu hơn trong rừng.
Nếu một ngôi làng Việt Nam thường được bất hủ hoá bởi những luỹ tre thì các ngôi làng Corse có hàng cây ôliu và cây hạt dẻ. Dễ trồng và rất chắc chắn, những loại cây này đã trở thành hệ thống phòng thủ tự nhiên bao bọc xung quanh làng và giúp hạn chế phần nào bước tiến của kẻ địch.
| Cầu Pinella, một trong những chiếc cầu được người Genova xây dựng để thuận tiện cho việc giao thông giữa các ngôi làng |
Sau ngôi làng Ota khoảng 3km, đoạn đường trekking bắt đầu tăng độ dốc hơn, nhưng vẫn có thể coi là dễ đi. Đoạn đường này nối hai ngôi làng là Ota và Evisa, trước kia vốn dĩ là một đường mòn được người dân địa phương sử dụng để đi lại. Vì con lừa là một phương tiện đi lại phổ biến trên con đường này nên người Corse đặt cho khúc đường trekking này là “đường mòn con lừa”. Có tên như thế này vì ngày xưa, một bộ phận không nhỏ người dân đảo Corse không sống theo kiểu cố định trong những ngôi làng mà lại theo kiểu du mục. Nơi ở của họ không cố định mà được xác định theo mùa vụ. Mùa hè thì họ ở trên núi bởi khí hậu mát mẻ và có rất nhiều đồng cỏ cho súc vật ăn. Đến mùa đông, vì trên núi quá lạnh, họ lại xuống núi và dạt ra rìa đảo để sống. Trong quá trình “chuyển nhà” từ trên núi xuống, những hộ gia đình du mục sử dụng con lừa để vận chuyển các vật liệu xây dựng thô sơnhất như thân cây và các thể loại lương thực đã được tích trữ trong mùa hè. Với số lượng gỗ được vận chuyển xuống biển, họ cho đóng tàu đơn giản và xây nhà tạm bợ. Mùa đông có thể coi là mùa sống cầm chừng của người du mục nơi đây vì họ khó có thể trồng trọt hay chăn nuôi được nhiều ở ven biển. Ở rìa biển, điều đó cũng đồng nghĩa với việc sẽ gặp rủi ro đối mặt với sự tấn công bất thình thình của những toán cướp đến từ ngoài khơi. Vì thế, không ít lần những hộ gia đình du mục xuống biển rồi lại phải quay trở lại lên núi lánh nạn hoặc nhờ sự trợ giúp của những ngôi làng như Ota hay Evisa.
Trung tâm đảo Corse là hệ thống những dãy núi cao nhất rồi từ đó độ cao giảm dần theo sườn núi và đổ ra biển. Vì thế, từ trung tâm đảo, có rất nhiều con đường mòn để những người du mục này sử dụng. Một trong những trục đường đó đã được chuyển hoá thành đường nhựa dành cho ôtô, nối giữa thị trấn Corte ở trung tâm đảo và thị trấn Porto rìa đảo. Bản thân lối đường mòn mà tôi đi giữa làng Ota và Evisa cũng là một phần của trục đường này, được quy hoạch thành đường mòn trekking cho những du khách thích du lịch mạo hiểm. Đây cũng là khúc đường cho thấy rõ một bộ mặt khác hoàn toàn của đảo Corse, rừng rậm rạp khắp nơi xen lẫn với những vách núi cheo leo.
Khúc đường chạy dọc theo một thung lũng mang tên Spelunca, trước kia đã từng là một nhánh sông nhưng đã bị cạn dần rồi trở thành một con suối nhỏ. Vì thế, không khó để nghe thấy tiếng nước chảy róc rách đây đó. Càng đi sâu vào trong thung lũng Spelunca thì khung cảnh càng trở nên hùng vĩ. Dần hiện ra trước mắt tôi những đỉnh núi đá nhọn hoắt. Thế rồi trong những mỏm đá ấy xuất hiện một chiếc cầu bằng đá mang tên Zaglia, được người Genova xây vào cuối thế kỷ 18 nhưlà trục đường giao thông chính nối giữa trung tâm đảo và bờ tây của đảo.
Sau chiếc cầu này, đoạn đường trở nên khó khăn hơn nhiều bởi các bước đi không còn bằng phẳng nữa. Các bậc thang bằng đá trở nên nhỏ hơn và vì thế tốc độ đi của tôi giảm hẳn. Con đường này sẽ dẫn đến ngôi làng Evisa, nằm ở bị trí cao hơn trên núi và sẽ phải mất khoảng 2 tiếng rưỡi để hoàn thành khúc đường này.
| thỉnh thoảng bắt gặp những ngôi nhà nhỏ nằm đơn độc trong thung lũng. Một khung cảnh rất chi là "ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên" |
Rải rác đây đó là những ngôi nhà mộc mạc có vẻ như đã bị bỏ hoang từ lâu và bị màu xanh của cây cối tấn công theo thời gian. Người ta đặt ra cái tên đường mòn con lừa cũng là vì đây là lối đi mang tính mùa vụ của những người dân đảo Corse chuyên sống theo trường phái du mục chăn nuôi.
Với đất đai ít phì nhiêu và khí hậu khắc nghiệt, đã từ rất lâu rồi người dân đảo Corse buộc phải chuyển hướng sang chăn nuôi gia súc thay vì canh tác lúa. Hình ảnh người chăn cừu phiêu bạt khắp nơi đã trở thành một phần không thể thiếu trong di sản văn hoá Corse. Tại đây, càng lên cao trên những sườn núi, những loại cây như hạt dẻ càng mọc nhiều và đóng vai trò như nguồn thức ăn dồi dào cho những ngôi làng sống ẩn dật trong trung tâm đảo. Xưa kia, mỗi một gia đình bắt buộc phải trồng rất nhiều loại cây hạt dẻ để chế biến thành bột hạt dẻ, tích trữ lương thực đề phòng chống đói trong những cuộc đấu tranh dài ngày chống lại các toán cướp biển hoặc thuỷ quân vũ trang đến từ biển.
Khi mà người Genova thiết lập chính quyền trên đảo, họ đã ra những điều luật cụ thể hơn, yêu cầu các hộ gia đình nơi đây phải tự trồng một số lượng cây ăn quả tối thiểu để tránh nạn đói, trong đó có những cây như sung, nho, dâu, ôliu và hạt dẻ. Và thế là cây hạt dẻ vốn dĩ đã xum xuê lại càng mọc lên nhiều hơn, mọc kiểu tự nhiên hoang dại hoặc mọc lên nhờ bàn tay con người. Không quá lời nếu nói rằng cây hạt dẻ đối với người Corse quan trọng nhưcây tre đối với làng mạc Việt Nam. Cái gì đến từ cái cây này đều có ích hết, gỗ thì dùng làm vật liệu xây nhà hoặc đóng bàn ghế, hoặc xây công sự phòng thủ. Còn hạt dẻ dùng làm thực phẩm. Từ hạt dẻ, người đảo Corse đã biết cách biến nó thành nguyên liệu cơ bản để chế biến ra hàng loạt các món ăn đặc sản khác nhau từ bánh mì đến mứt, từ bánh ga-tô đến bánh kép. Có thể nói bột hạt dẻ ở đây thay thế hoàn toàn cho lúa mì, lúa mạch, một phong cách hoàn toàn khác với những người Châu Âu ở đại lục.
Chính vì sự dồi dào về lương thực từ hạt dẻ mà sẽ có sự chênh lệch về thu hoạch giữa các gia đình Corse, gián tiếp tạo ra sự ghen tị giữa các dòng tộc hoặc giữa các ngôi làng. Sự ghen tị ấy đôi khi là nguyên nhân dẫn đến xung đột hiềm khích giữa các dòng tộc, tạo ra những cuộc ẩu đả đẫm máu chống lại nhau. Bên này cướp của chém giết, bên kia trả thù lại… những phương pháp trả thù đẫm máu ấy dần dần trở thành một “phong tục tập quán” buồn mà người dân trên đảo gán cho cái tên vendetta, trong tiếng Corse có nghĩa là “trả thù”. Ở thế kỷ 21 này, trong một nền văn minh tiên tiến như Châu Âu, vẫn tồn tại những truyền thống phong kiến như vendetta, và bản thân chính người Pháp đại lục đã không ít lần nếm mùi cay đắng khi phải ra sức kiếm soát an ninh trên hòn đảo Corse mà họ cho là “hoang dại’. Báo chí địa phương vẫn thường đăng tin những vụ đánh bom các quầy bar để thể hiện sự bài trừ khách du lịch, hay những vụ ám sát bằng súng lục nhắm đến những vị cầm quyền đến từ Pháp đại lục mà không được lòng dân… cái chữ vendetta có vẻ như được hiểu trong nghĩa rộng hơn, nó không chỉ miêu tả hình thức “trả thù” nữa, mà là một thái độ hiềm khích chống lại bất cứ một luồng sóng nào đến từ bên ngoài mà người dân đảo Corse cho rằng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của văn hoá họ. Nó có thể là việc các du khách nước ngoài đến đây quá nhiều và “làm phiền” họ, nó cũng có thể đến từ việc các nhà cầm quyền không phải người Corse tiến hành những chính sách xã hội không phù hợp với triết lý sống của người Corse…
Chốt cuối cùng của chặng đường cuốc bộ là làng Evisa, cách thị trấn Porto chừng 21km, nằm ở độ cao 2100km so với mực nước biển. Để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ngôi làng này thì phải nhìn từ phía xa. Còn khi đã đi hẳn vào trong làng rồi thì khung cảnh nói chung không có nhiều điểm khác biệt so với làng Ota.
Người ta nói đảo Corse là đảo núi quả không sai. Ở bất cứ điểm nào trên hòn đảo này, bạn luôn đứng ở vị trí cao hơn mực nước biển vài trăm mét và luôn có tầm nhìn ra ngoài biển. Giờ thì tôi đã hiểu tại sao người dân đảo Corse chủ ý chọn lùi sâu vào trong đảo và sống cao trên núi, nơi họ luôn có tầm nhìn bao quát đảo, ra tận biển để phát hiện những mối nguy hiểm từ xa.
Tôi dừng nghỉ chân tại một quán bar địa phương và nhâm nhi một ly bia Pietra. Đây là một loại bia rất đặc trưng của đảo Corse và đến đây mà không thưởng thức nó thì thật là lãng phí. Nguyên liệu gốc không phải là lúa mạch như tất cả các quốc gia khác ở Châu Âu mà là từ bột hạt dẻ. Nghỉ trưa rồi gặm một ít bánh mì kẹp thịt đã được chuẩn bị từ tối hôm trước, tôi lên tuyến xe buýt nối giữa làng Evisa và thị trấn Corte.
Không phủ nhận việc càng đi sâu vào bên trong đảo Corse thì bạn sẽ càng có cơ hội tìm hiểu cái hồn thực sự của người dân Corse. Tuy nhiên, vì gặp hạn chế về mặt thời gian nên tôi chỉ lưu lại thị trấn Corte một lúc rồi phải ngay lập tức bắt nối chuyến xe buýt khác quay trở về thành phố Ajaccio. Ban đầu, tôi dự kiến bắt chuyến tàu hoả nối giữa 2 thành phố này nhưng vào mùa hạ điểm tháng 2 thì hệ thống đường ray này huỷ hầu hết tất cả các chuyến đi. Vì vậy, xe buýt là phương tiện giao thông duy nhất. Đến được Ajaccio thì cũng đã hơn 16h chiều. Tôi tiếp tục nghỉ qua đêm theo kiểu cái bang…
![]() |
| không kịp nán lại thăm Corte, tôi chỉ kịp chụp một kiểu ảnh tượng trưng |
Ngày hôm nay là một ngày đen đủi nhất trong hành trình khám phá đảo Corse bởi trời mưa tầm tã. Hôm đó thực sự là một cảm giác ức chế không thể tưởng tượng nổi. Giữa cái tháng 2 mà tỉ lệ trời mưa rất thấp, tôi lại phải trải nghiệm một bầu trời xám xịt, chỉ mong sao có cái quạt gió khổng lồ nào quét sạch đám mây đáng ghét kia đi. Theo dự kiến, tôi bắt chuyến xe buýt buổi sáng để đến được một kỳ quan nằm ở mũi phía nam của đảo Corse có tên là Bonifacio với mục đích sẽ có cả buổi chiều khám phá vịnh. Thế nhưng kế hoạch ấy đã bị phá sản hoàn toàn. Hành trình 4 tiếng ven theo rìa đảo cũng vì thời tiết xấu mà mất hẳn vẻ đẹp của nó. Đến được Bonifacio là 12h trưa rồi. Trời vẫn mưa, tôi buộc phải ngồi chôn chân tại một quán cà phê rồi cứ ngồi đó cho đến xẩm tối. Bắt đầu từ 17h chiều, trời có vẻ đã tạnh mưa hẳn. Tôi đi dạo dọc theo bãi đậu thuyền mà vẫn không nuốt trôi sự bực tức vì bị thời tiết xấu chơi xỏ. Thế nhưng chính trong hoàn cảnh éo le ấy mà tôi đã có một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của chuyến đi.
Sau này ngẫm lại, tôi thấy rằng không phải lúc nào những kỷ niệm đáng nhớ cũng là những kỷ niệm đẹp như trong mơ. Thế nhưng đôi khi đó là những kỷ niệm để đời. Người ta hay gắn sự thành công của một chuyến đi với những pô ảnh đẹp, với việc càng thăm nhiều thắng cảnh càng tốt… Thế nhưng đôi khi chính những tình huống khó khăn không mong muốn ập đến và cách chúng ta vượt qua chúng cũng là một yếu tố quan trọng làm nên một kỷ niệm đẹp. Và trải nghiệm của tôi tại thị trấn Bonifacio là minh chứng cho điều đó. Đang đi dạo một mình như một kẻ vô gia cư, tôi tình cờ bắt gặp một người đàn ông tên Raphael, cũng là dân…vô gia cư. Hai người vô gia cư với nhau, một người là dân vô gia cư “chuyên nghiệp” còn người kia thì bất đắc dĩ.
Tính chất của cuộc gặp gỡ tình cờ này mang đậm chất giang hồ bởi hai người không biết nhau, lại thuộc về hai trường phái văn hoá khác hẳn nhau nhưng lại trở thành bạn, dù thời gian làm bạn đó không kéo dài quá 24 tiếng. Lý do chúng tôi làm quen với nhau bắt nguồn từ một nguyên nhân cũng rất chi là “cái bang”. Raphael là một người vô gia cư quốc tịch Pháp bị lưu lạc vào đảo Corse này vì tạm thời bị mất giấy tờ tuỳ thân và không thể lên tàu trở về đại lục trong một thời gian gần. Để làm được điều đó thì ông ta phải làm các thủ tục cấp lại giấy tờ tại đảo này nhưng trong thời gian chờ đợi thì chỉ có thể bị chôn chân ở đây. Tiền không có, ông ta phải nhờ một người thân trên đại lục gửi tiền mặt qua phương pháp Western Union. Nhưng mà muốn nhận tiền ở quầy giao dịch thì phải trình đầy đủ giấy tờ… Tôi xuất hiện như một đấng cứu thế bởi chỉ có chiếc hộ chiếu của tôi mới đủ thẩm quyền để nhận tiền giúp ông ta. Như vậy, Raphael “mượn” tôi để lấy tiền giúp, 300 EUR không phải là một số tiền quá lớn nhưng hoàn toàn đủ cho một người vô gia cư sống cầm chừng trên đảo trong vòng 2 tuần.
Raphael rất cảm kích với sự giúp đỡ của tôi và chúng tôi đã có một cuộc nói chuyện rất dài giới thiệu về nhau rồi thì tâm sự các thể loại trên trời dưới đất. Nói chuyện mãi đến gần đêm rồi, có lẽ phải đi ngủ thôi, cơmà đi ngủ đâu bây giờ? Tôi thì chân ướt chân ráo đến Bonifacio, chắc cũng phải loay hoay tìm một nơi nào ngủ tạm bợ như ở Ajaccio hay Porto trước đó. Chia sẻ thẳng thắn với Raphael, ông ta đã đáp lại sự giúp đỡ của tôi bằng cách dẫn tôi đến một bệnh viện bị bỏ hoang để nghỉ qua đêm. Đây chính là điểm nhấn mạnh nhất trong chuyến đi của tôi. Quá mạo hiểm phải không? Các bạn sẽ thắc mắc tại sao tôi lại có thể tin tưởng một cách nhanh chóng một người vô gia cư chưa từng quen biết. Nhỡ ông ta giết người cướp của thì làm thế nào? Bây giờ ngẫm lại, tôi cũng có những câu hỏi tương tự nhưng khi bản thân bị rơi vào hoàn cảnh đó, linh cảm cá nhân đã cho tôi thấy mình có thể tin tưởng được con người đó.
Raphael, một người đàn ông chạc tuổi 50 có nguồn gốc Tây Ban Nha nhưng đã di cư sang miền nam nước Pháp vào những năm 80 và có một cô con gái đang làm việc ởMontpelier. Xuất thân là một kẻ không có việc làm ổn định, ông đã sớm gặp phải đổ vỡ gia đình vì tính trăng hoa và hay rượu chè của mình. Đó là lý do vì sao người vợ cũ đã quyết định ly thân và giữ quyền nuôi con gái. Những thành viên khác trong gia đình đã quyết định khai trừ Raphael ra khỏi dòng tộc vào đầu những năm 1990. Kể từ đó, Raphael trở thành dân vô gia cư, sống một cuộc sống không ổn định, đa phần chỉ có thu nhập từ những việc làm thời vụ đòi hỏi cơ bắp như bốc vác hay hái quả. Đó là lý do vì sao ông phiêu lưu ở nhiều nơi trong Địa Trung Hải, chủ yếu là miền nam nước Pháp, Italia và Tây Ban Nha. Trước khi đặt chân đến đảo Corse này, ông ta cũng mới kết thúc một việc làm thời vụ ở đảo Sardinia (Italia), nằm ngay ở phía nam của đảo Corse và chỉ cách mũi Bonifacio chừng 1 tiếng đi phà. Có khá nhiều điều tôi học được từ những chia sẻ của Raphael. Các bạn đừng nghĩ rằng một kẻ thất nghiệp và vô gia cư thì đồng nghĩa với việc anh ta là một kẻ vô văn hoá và ứng xử thô kệch. Nó có thể đúng với nhiều quốc gia đang phát triển, nhưng không phải lúc nào cũng đúng với những quốc gia Châu Âu có chế độ phúc lợi xã hội tốt như nước Pháp. Thật vậy, người thất nghiệp bên Pháp luôn được hỗ trợ không bằng cách này thì bằng cách khác. Đến một kẻ “khố rách áo ôm” như Raphael cũng được hưởng những chế độ ưu đãi vật chất tối thiểu như bảo hiểm y tế và nhất là một chiếc điện thoại di động! Vô gia cư mà cũng có điện thoại di động à? Có chứ! Raphael giải thích với tôi rằng nguyên nhân vì sao chính phủ Pháp phát cho những người như ông một chiếc điện thoại, đó là để có thể liên lạc với ông mỗi khi ông gặp khó khăn. Trong chiếc điện thoại đó luôn được lưu một số điện thoại khẩn cấp của chính phủ, và miễn phí. Raphael chỉ cần gọi vào số đó, 1 phút sau sẽ có trung tâm hỗ trợ người vô gia cư gọi lại và hỗ trợ ông trong trường hợp khẩn cấp (đói ăn, cần chỗ ngủ…). Đến một người vô gia cư như ông cũng có một thẻ bảo hiểm y tế mà người Pháp gọi là Sécurité Sociale. Đến một người như ông ta mà còn có ý thức bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, chịu khó đến trung tâm y tế khám sức khoẻ định kỳ, khám răng. Đó thực sự là một điều khiến tôi phải nể phục. Và chi tiết cuối cùng khiến tôi phải phục ông ta sát đất, đó là việc ông ta biết cách sử dụng dịch vụ Western Union để được nhận tiền từ người thân. Bản thân tôi cũng chỉ biết đến tác dụng thực sự của dịch vụ này khi gặp ông ta! Vậy đó, khi quay trở về Paris và kể lại cuộc gặp gỡ này với bạn bè, ai cũng đều phải thốt lên: “Bó tay chấm com, đến ngay cả một người ăn mày vô gia cư mà cậu cũng học hỏi được một điều gì đó”. Có chứ, tôi nghĩ rằng ai cũng có một điều gì đó để cho ta thấy. Chỉ có điều ta có muốn chấp nhận học điều đó hay không mà thôi.
| nghĩ đến việc ngủ qua đêm trong một bệnh viện bỏ hoamg, người ta có thể nghĩ đến một cảnh phim kinh dị hoặc những trò chơi điện tử cảm giác mạnh. Bây giờ ngẫm lại, tôi có thể liên tưởng đến trò chơi "Silent Hill"... |
![]() |
| hoặc là "Resident Evil" phiên bản Play Station 2 |
Cái đêm trong bệnh viện bỏ hoang khá lạnh, 10 độ. Cho dù đã nằm trong một căn phòng lặng gió và kín cửa, tôi vẫn cảm nhận được cái lạnh ngấm vào sống lưng. Những chiếc khăn ga giải giường góp nhặt được trong bệnh viện không đủ để sưởi ấm. Và tôi cũng không biết tại sao thời điểm ấy lại không bị mất ngủ. Cảm giác phải ngủ trong một bệnh viện bỏ hoang dường như không gây một chút sợ hãi đối với tôi. Sự liều lĩnh chính là ở đó. Có thế mới thấy, du lịch mạo hiểm đâu phải lúc nào cũng phải vác xe máy đi phượt Hà Giang hay là leo núi lên đỉnh Phan xi păng. Nó đôi khi chỉ đơn thuần là cảm giác bị thử thách khi phải một mình đối mặt với một nền văn hoá khác, một ẩm thực khác, những con người lạ mặt không nói cùng thứ tiếng với chúng ta. Các bạn dám leo Phan xi păng, dám phượt Mộc Châu. Vậy các bạn có dám một mình ngủ trong bệnh viện bị bỏ hoang?
| Bonifacio ngày nay được quy hoạch dựa trên nền tảng của một ngôi làng đã tồn tại từ thời Trung Cổ. Phần cổ nhất là khu vực pháo đài tọa lạc trên đỉnh đồi còn khu phố mới thì được xây dưới chân đồi với những dịch vụ ăn ngủ nghỉ nằm dọc theo ven bờ bãi đỗ thuyền. |
Sáng hôm sau là một làng Bonifacio tràn đầy ánh nắng, làm tôi bớt đi sự cay cú của ngày hôm trước. Bonifacio, một sự hoà quyện hoàn hảo giữa thiên nhiên và bàn tay con người. Với vị trí chiến lược nằm ở mũi tận cùng phía nam của đảo Corse, Bonifacio ngay từ thời Trung Cổ đã đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quan sát biển và phòng thủ của đảo. Toạ lạc trên một đại vực cao 60m và sát mép biển, hình ảnh Bonifacio đối diện với biển cả luôn là một trong những biểu tượng của đảo Corse. Và đó là lý do vì sao tôi mới cất công ngồi mài đũng quần 4 tiếng đồng hồ xe buýt để đến đây. Bonifacio là một trong những ngôi làng có giàu truyền thống lịch sử nhất đảo Corse vì nó được thành lập ngay từ thế kỷ thứ 9 sau CN bởi người Ý. Được truyền qua tay khá nhiều tiểu vương quốc Ý, cuối cùng, Bonifacio rơi vào tay người Genova và được vương quốc này cho gia cố hệ thống phòng thủ. Ngày nay, ảnh hưởng kiến trúc của Genova còn hiện diện rất rõ, từ cách quy hoạch hệ thống tường thành đến các hoạ tiết trang trí nhà cửa.
| tôi bắt đầu chuyến khám phá bằng cách tìm những địa điểm khác nhau để có cái nhìn toàn cảnh Bonifacio. Từ góc nhìn này có thể thấy vị trí chiến lược rất thích hợp cho phòng thủ : một bên là biển khơi được bảo vệ bởi vực cao, còn một bên là đất liền bị chặn bởi hệ thống tường thành vừa cao vừa kiên cố |
Khi đã nắm được toàn quyền kiểm soát đảo Corse từ thế kỷ 12, người Genova hoàn toàn hiểu được tầm quan trọng của việc phải bằng mọi giá giữ được đảo. Vì thế họ đã phải cho gia cố nhiều mắt xích phòng thủ trong đó Bonifacio là điểm cực kỳ quan trọng.
| cách xa pháo đài Bonifacio là hệ thống các chòi canh và hệ thống tường thành nằm khuất sau đá, rất thuận lợi cho việc phát hiện tàu chiến của địch từ ngoài khơi rồi báo động cho trung tâm biết |
| rải rác đây đó được trang bị súng thần công hướng về phía biển, phục vụ cho việc khai hoả hàng loạt tấn công các tàu chiến cách bờ biển chừng 1-2km. |
| góc nhìn này cho thấy mức độ hiểm trở về mặt vị trí địa lý khi toàn bộ pháo đài Bonifacio được xây trên vách đá treo leo, cao hơn mực nước biển 60m |
Sau khi ngắm Bonifacio từ xa, tôi bắt đầu xâm nhập vào bên trong. Đây là cái nhìn gần từ phía pháo đài hướng về khu đô thị mới dưới chân đồi. Khu vực đậu thuyền chính là khu tôi đi dạo tối hôm trước và bắt gặp Raphael.
Từ hệ thống tường thành, bạn luôn ở độ cao để có đủ tầm nhìn bao quát toàn bộ hoạt động bằng đường biển. Luôn nhìn thấy rõ các con tàu khả nghi từ phía xa để có sự đề phòng.
Các ngôi nhà ở đây được xây dựng với mục đích phòng thủ khi có quân địch tấn công. Thứ nhất, các ngôi nhà thường có 3 tầng và tầng một hầu như không có cửa vào, chỉ bị bịt kín bằng tường. Trước kia, người dân bắc thang để chui ra ngoài và khi có quân địch thì họ rút thang. Những cửa sổ ở tầng hai và tầng ba đóng vai trò như lỗ châu mai để phục kích. Họ có thể bắn cung tên từ cửa sổ xuống đầu địch. Ngày nay thì các tầng trệt đã được bổ sung cổng vào để phù hợp với nhu cầu thời đại. Có thể nhận thấy rằng các nẻo đường ngõ ngách cũng rất hẹp, với mục đích hạn chế tốc độ di chuyển của địch.
Giữa các công trình kiến trúc rất hay được nối với nhau bằng những chiếc vòm như thế này. Thực chất, chúng là hệ thống các kênh rạch nhằm mục đích hứng nước mưa. Khi mưa rơi, nước mưa sẽ chảy vào đây, trôi theo các ống dẫn vào các chum chứa nước nằm bên trong các ngôi nhà.
Tầm ảnh hưởng của người Genova trên đảo Corse được thể hiện rất rõ qua nét kiến trúc. Kiểu toà tháp chuông nhà thờ vuông thành sắc cạnh và có kiểu dáng cửa sổ mù với cột chống ở giữa này được nhập khẩu từ vương quốc Genova đại lục.
Trong suốt vài trăm năm, đảo Corse đã phải chịu nhiều cuộc tấn công từ những thế lực xung quanh, đặc biệt là từ người Tây Ban Nha, hay chính xác hơn là vương quốc Aragon. Trong những xung đột quân sự giữa người Genova và Aragon, nổi bật nhất phải kể đến cuộc chiến vào năm 1420.
Dấu vết lịch sử ấy còn được giữ lại qua di tích 187 bậc cầu thang được lính hải quân Aragon bí mật xây bằng tay chỉ trong một đêm để thiết lập một đường vào bí mật xuyên thủng hàng phòng ngự Bonifacio. Thực ra “chiến công” chỉ xây các bậc thang này trong một đêm được bô li phê lên một chút để tăng thêm phần ly kỳ của câu chuyện thôi.
Cuộc tấn công của người Aragon trên thực tế cũng bắt đầu từ những bậc thang này nhưng đa phần các bậc thang ấy đã tồn tại từ trước, và được xây bởi một số tu sĩ Bonifacio với mục đích tìm đường xuống biển lấy nước.
Có thể thấy dải vực màu trắng muốt chạy dọc bờ biển là một điều hiếm thấy trên đảo Corse nhưng qua đó thể hiện sự đa dạng về phong cảnh của hòn đảo này. Nhưđã giải thích ở phần một, đảo Corse có nguồn gốc từ nham thạch núi lửa nên các vách núi thường có gam màu đỏ hoặc xám xịt.
Vách đá ởBonifacio là một ngoại lệ vì có nguồn gốc từ đá vôi màu trắng. Tôi thong thả khám phá Bonifacio đến hết buổi sáng rồi sau đó bắt chuyến xe buýt quay trở lại Ajaccio rồi trải qua đêm cuối cùng, cũng kiểu cái bang.
NGÀY 6 : AJACCIO / PARIS
Chuyến bay trở về Paris khởi hành khá sớm mà lại không có chuyến xe buýt nào đưa ra sân bay vào lúc sớm như vậy. Tôi buộc phải cuốc bộ thẳng ra sân bay, 11km từ trung tâm Ajaccio. 6 ngày tại hòn đảo này, tôi cũng chỉ đủ thời gian để khám phá nửa phía nam của đảo Corse. Không quá dài, nhưng chắc cũng đủ để hiểu một ít thế nào là người Corse, những con người có nghĩa “dân tộc” rất cao, cao hơn bất cứ vùng nào của Pháp mà tôi đã từng đặt chân đến. Cái nghĩa “dân tộc” ở đây được hiểu rằng: trước khi tự hào là người Pháp, người đảo này tự hào họ là người Corse, với ngôn ngữ Corse và truyền thống Corse, rất khác so với văn hoá Pháp đại lục. Người nơi đây vẫn thường có một câu thành ngữ, đại loại là “bạn có thể là người Pháp cho đến hết cuộc đời, nhưng bạn vẫn mãi mãi là người Corse!”.
Thái balo


























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét