NGÀY 3: QUẦN THỂ ANGKOR
Hôm nay là ngày được mong đợi nhất của hành trình bởi chúng tôi sẽ được chiêm ngưỡng quần thể đền Angkor, được mệnh danh là “Kim Tự Tháp của Đông Nam Á” nhờ vào sự đồ sộ của các công trình kiến trúc cũng như tầm cỡ lịch sử của một đế chế rộng lớn đã từng làm mưa làm gió trong khu vực trong suốt vài trăm năm. Với diện tích tương đương với Tử Cấm Thành của Trung Quốc, dĩ nhiên chúng tôi không thể tham quan một cách tỉ mỉ mọi ngóc ngách trong vòng chỉ 1 ngày. Thêm nữa, cũng phải thành thật mà nói, không phải thành viên nào trong nhóm chúng tôi cũng là fan hâm mộ cuồng nhiệt của kiến trúc hay lịch sử. Vì thế, một ngày trọn vẹn để thăm những công trình tiêu biểu nhất có lẽ là quá đủ với nhóm, chưa nói đến khả năng chịu đựng dưới cái nóng 35 độ. Chúng tôi chỉ thăm những địa danh mà người ta hay nhắc đến nhiều nhất qua màn ảnh nhỏ: Angkor Wat, Angkor Thom, Banteay Kdei, Ta Prohm. Một lần nữa xin được nhắc lại, quần thể đền Angkor không phải là một vài cái đền mà là một diện tích rộng 400m2. Trong đó có vô vàn đền, cung điện và nhà ở nằm rải rác khắp nơi. Những gì chúng tôi thăm chỉ chưa đến 10% diện tích thật. Mọi thứ đều được làm từ đá tảng, khổng lồ, bí hiểm, thiêng liêng… tôi có cảm giác như quay ngược thời gian trở lại thời hoàng kim của những công trình này. Mặc dù rất nhiều công trình chịu sự xói mòn của thời gian, quần thể Angkor vẫn giữ nguyên mức độ hoành tráng mà bất cứ ai đến đây cũng phải há hốc mồm thán phục.
| Quần thể Angkor nằm khoảng 8km về phía bắc thị trấn Siem Reap. Các di tích chúng tôi tham quan nằm khá sát nhau, với khoảng cách 1-2km giữa các điểm. |
Với sự hỗ trợ của Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc, những con đường rải nhựa đã được xây để nối Siem Reap đến quần thể Angkor, giúp cho việc đi lại của du khách dễ dàng hơn rất nhiều.
| Trạm soát vé, mỗi du khách trả 20usd cho một ngày hoặc 40usd cho 2 ngày, từ ngày thứ 3 đên 1 tuần là 60usd |
Ngay khi đến cổng soát vé, tôi đã bắt đầu rất háo hức. Quần thể đền Angkor đã từng là một kinh đô phồn vinh dưới đế chế khơ me tồn tại trong vòng 600 năm (IX-XV). Nếu như nhìn vào những khu rừng rậm rạp xung quanh, chúng ta có thể mường tượng được một sự huy động khổng lồ về sức người cũng nhưkinh phí để có thể nạo vét kênh rạch, khai thác quặng đá, chặt cây đốn rừng để có thể tạo nên một kinh đô rộng 400km2. Và sức hút của Angkor còn lớn hơn nữa bởi những giai thoại lịch sử thú vị xoay quanh nó. Sau khi đế chế sụp đổ vào thế kỷ 15, toàn bộ kinh đô phồn hoa chìm sâu trong giấc ngủ ngàn thu, không một ai biết đến, kể cả chính những người dân khơme. Ấy thế rồi những nhà khảo cổ người Pháp đầu tiên đã tìm lại được đống tro tàn Angkor vào đầu thế kỷ 19, nhưlà một phép màu.
Nếu như người Châu Âu có thành Rome, người Châu Á có Angkor. Vào thời kỳ đỉnh cao nhất của đế chế, đã từng có 1 triệu con người sinh sống tại đây. Còn ngày nay, 1 triệu con người ấy không phải là dân bản xứ mà là… khách du lịch. Angkor được cho là đã thu hút khoảng 2 triệu lượt khách quốc tế mỗi năm và không quá ngạc nhiên khi nhóm của chúng tôi chỉ là một trong số vài trăm ngàn người đang đổ xô về đây! Hiểu được rủi ro sẽ phải đối mặt với biển người, tôi đã phối hợp với cậu HDV xây dựng một lịch trình hợp lý để càng tránh những lúc đông người càng tốt. Đó là lý do vì sao chúng tôi thăm Angkor Wat trước.
| Một mô hình thu nhỏ của đền Angkor Wat. Vệt màu đỏ là hành trình thăm quan của chúng tôi |
Tất nhiên, trong khuôn viên của một cố đô rộng 400km2 này, có rất nhiều công trình kiến trúc đồ sộ đòi hỏi sự huy động khổng lồ về sức người nhưng Angkor Wat được coi như là ví dụ điển hình nhất cho sự vĩ đại đó. Theo sổ sách ghi lại, đền này được xây vào thế kỷ 12 sau CN và vị vua đương thời Suryavarman II đã phải huy động khoảng 300.000 công nhân và 6000 con voi để vận chuyển vật liệu xây dựng. Tất cả những phiến đá này được khai thác tại một quặng các đây khoảng 50km ở một ngọn đồi. Từ ngọn đồi này, người khơ me thời ấy đã sử dụng con sông Siem Reap và dùng thuyền chở các tảng đá đến đây. Nếu nhìn vào sự đồ sộ của Angkor Wat, có lẽ chúng ta không khỏi cảm thấy hổ thẹn bởi Hoàng Thành Thăng Long vào thời nhà Lý, cùng thời đại với Angkor, chỉ đáng xách dép về mặt diện tích cũng như độ tinh xảo của nghệ thuật điêu khắc trên đá.
| Đền Angkor Wat chụp từ vệ tinh Google Map cho thấy đền được xây theo trục Đông - Tây với cổng vào từ phía Tây và cổng hậu nằm ở phía Đông |
| Bậc thang dẫn vào hành lang ngoài cùng, nằm ở sườn trái của đền |
Angkor Wat là một công trình kiến trúc thể hiện mô hình thu nhỏ của vũ trụ theo quan niệm của đạo Bà La Môn. Theo đạo này, hướng xây của các ngôi đền phải theo trục đông-tây bởi phía đông (hướng mặt trời mọc) tượng trưng cho sự khai sinh còn phía tây (mặt trời lặn) tượng trưng cho cái chết.
| Những đỉnh tháp nhọn như thế này tượng trưng cho ngọn núi Meru, cõi hư vô trong đạo Bà La Môn và là nơi được cho là cung đình của những vị thần |
Việc cổng vào của đền Angkor Wat hướng về phía tây khiến cho các nhà khảo cổ học suy luận rằng công trình này được xây ra như là một kiểu lăng tẩm dành cho hoàng tộc. Bản thân Angkor Wat là một phép ẩn dụ miêu tả thiên đình, nơi ngự trị của những vị thần. Hệ thống kênh rạch bao bọc xung quanh đền tượng trưng cho đại dương bao la. Hệ thống các sảnh ngoài trời và các ngọn tháp là biểu tượng của các ngọn núi và lục địa. Còn ngọn tháp cao nhất nằm ở chính giữa trung tâm là chiếc cầu nối giữa thiên đường và hạ giới, hoặc có thể hiểu theo thiên văn học là cầu nối giữa trái đất và vũ trụ.
Từ cổng chính, có một con đường lát gạch đá rất dài (khoảng 300m) nối đến điện chính của đền Angkor Wat. Hai bên con đường này là hai hàng rào có hình con xà tinh 7 đầu. Đây là một con vật linh thiêng có nguồn gốc từ đạo Bà La Môn đến từ Ấn Độ. Khi du nhập vào Campuchia, người khơ me đã bổ sung thêm một số đặc tính nữa khiến cho con xà tinh thuần chất địa phương hơn, đặc biệt là ở hình dáng giống con rồng biển, một vị thần đem lại nguồn nước mưa cho vương quốc. Như vậy, việc để con xà tinh dọc theo con đường 300m này không phải là ngẫu nhiên bởi nó tượng trưng cho chiếc cầu vồng nối giữa hạ giới (cổng bên ngoài) và cõi thiên đường nơi ngự trị của những vị thần (đền Angkor Wat) .
Đền Angkor Wat trở thành biểu tượng quốc gia và xuất hiện trên lá cờ quốc gia.
| Theo phiên bản gốc, đền Angkor Wat được sinh ra để tôn thờ thần Vishnu, một trong 3 vị thần có vị trí cao nhất trong đạo Bà La Môn. Vị thần này có phép thần thông quảng đại và nắm vai trò cân bằng vũ trụ. |
Nếu nhìn gần và để ý kỹ, ta có thể thấy vẫn còn hằn lên bề mặt các phiến đá những cái lỗ tròn. Người khơ me thời ấy cho đục những lỗ này để có thể cho đầu các thanh gỗ vào, mục đích để nâng các khối đá trồng lên nhau. Khó có thể biết được họ làm cách nào để họ có thể đục khoét những lỗ này mà không làm vỡ đá.
| Bậc thang nối giữa lớp hành lang ngoài cùng và lớp hành lang thứ 2 |
Đền Angkor Wat có tổng cộng 3 lớp hành lang và tại 2 lớp hành lang ngoài cùng là một loạt các tác phẩm điêu khắc tinh xảo trên bề mặt tường đá. Nói sơ bộ, các tác phẩm điêu khắc trên bờ tường của các khu hành lang bao bọc xung quanh đền thường đề cập đến nhiều truyền thuyết của đạo Bà La Môn, ví dụ như sử thi Ramayana, chiến tranh giữa các vị thần,... Cũng có một số tác phẩm miêu tả lịch sử những cuộc chiến tranh giữa đế chế khơ me và những vương quốc lân cận, trong đó phải kể đến nước Xiêm, Champa và Đại Việt.
Angkor Wat nhìn từ lớp hành lang thứ 2. Có thể thấy từ phía xa những khu rừng rập rạp như thể đang muốn “ăn tươi nuốt sống” đền Angkor Wat. Nếu như không có sự chăm sóc của cộng đồng sư đạo Phật tu hành ẩn dật tại đây vào những thế kỷ 16-18 thì có lẽ số phận của nó cũng sẽ giống như rất nhiều công trình khác, bị cây dại mọc lên và trồi rễ phá huỷ từng lớp tường một.
Những bức điêu khắc trên tường là bằng chứng lịch sử hiếm hoi đề cập đến mối quan hệ ngoại giao giữa đế chế Angkor và nước Đại Việt cũng như Champa vào thế kỷ 13. Tương đương với triều đại nhà Trần, Campuchia thời ấy được trị vì bởi một vị vua lỗi lạc mang tên Jayavarman VII. Vị vua này đã thành công trong việc đẩy giặc ngoại xâm Champa và cho tiến hành hàng loạt cải cách chính trị xã hội để biến vương quốc Angkor thành một đế chế hùng mạnh. Họ liên tiếp bành trướng lãnh thổ và đánh bại các nước chư hầu xung quanh. Diện tích đế chế lúc này đạt đến đỉnh điểm, bao gồm phần lớn nước Thái Lan, phía nam nước Lào, một phần phía bắc Malaysia và một phần phía tây của Việt Nam. Nước Xiêm (Thái Lan) và Myanmar chỉ là thân phận những nước chư hầu của đế chế. Để có thể thăm và hiểu hết ngọn ngành tất cả các tác phẩm điêu khắc này, có lẽ cần phải mất khoảng 2-3 tiếng. Vì thời gian có hạn, chúng tôi chỉ đánh trọng tâm vào một số tác phẩm tiêu biểu, đặc biệt là những gì liên quan đến các cuộc chiến tranh giữa đế chế Angkor và những vương quốc lân cận.
| Quân đội Angkor dưới thời Suryavarman II (thế kỷ 12) đang hành quân để chuẩn bị trận chiến với nước Đại Việt của triều Lý |
Rõ ràng đã từng có rất nhiều nhà sử học lỗi thời tại Campuchia vào giai đoạn ấy. Nhưng lạ thay, họ không có phong tục ghi chép lại lịch sử vào sổ sách hay giấy viết mà lại chỉ khắc lên bề mặt tường đá. Đó là lý do vì sao những nhà sử học ngày nay gặp khá nhiều khó khăn trong công cuộc tìm hiểu lại quá khứ vì họ nhiều khi phải chắp vá các phiến đá rơi vãi khắp nơi để có thể thêu nên một diễn biến lịch sử có lô-gích.
Vào khoảng đầu thế kỷ 13, đạo Phật dần dần chiếm ưu thế trong xã hội khơ me và thay thế đạo Bà La Môn rồi trở thành quốc đạo. Đền Angkor Wat dần dần cũng đổi chủ, tôn thờ Phật và tại sảnh này đã từng có rất nhiều tượng Phật được xếp đều hai hàng hai bên. Tuy nhiên, theo dòng thời gian và đặc biệt do chiến tranh, rất nhiều tượng đã bị phá huỷ. Dưới thời chế độ khơ me đỏ, cũng có rất nhiều tượng bị phá huỷ.
Một số ít tượng còn sót lại thì cũng bị mất đầu, không được nguyên vẹn. Theo các chuyên gia, rất có thể những kẻ truy tìm ngôi mộ cổ đã đến đây đánh cắp đầu tượng để bán cho những tên đại gia yêu thích sưu tầm cổ vật. Một số lượng đã được các viên bảo tàng phương Tây như Pháp và Anh mua lại để rồi trưng bày trong sảnh của họ. Có lẽ việc chính phủ Campuchia đòi lại những di sản này là điều khó có thể thực hiện được trong tương lai gần.
Angkor Wat được biết đến như là bộ sưu tập đồ sộ những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc trên bề mặt đá và đặc biệt hơn nữa, hơn 3000 biểu tượng tiên nữ thiên giới Apsara xuất hiện khắp mọi nơi. Có nguồn gốc từ truyền thuyết đạo Bà La Môn, người ta nói rằng những cô tiên này được sinh ra từ những bọt sóng của đại dương. Theo suy luận của các chuyên gia sử học, lý do những bức điêu khắc cô tiên apsara có nhiều đến vậy là vì các vị vua Angkor mong muốn khi họ chầu trời, sẽ được hưởng thụ một cuộc sống an lạc với những buổi tiệc có các nàng vũ công apsara nhảy múa linh đình. Có thể nói, chính những tác phẩm điêu khắc này là một kho tàng lịch sử quý báu, giúp cho các chuyên gia bảo tồn điệu múa Apsara nhận biết được những kỹ thuật động tác hay trang phục truyền thống cách đây hàng nghìn năm.
| Những nấc thang cuối cùng dẫn đến sảnh cao nhất của đền. Do các thành viên đã quá mệt vì phải đi bộ nhiều nên không ai dám dũng cảm treo lên nữa. |
Rời khỏi Angkor Wat, tôi nhận thấy rằng một số thành viên đã có một số biểu hiện mệt mỏi do phải chịu cái nóng chói chang. Thêm nữa, trong suốt quá trình thăm quan đền Angkor Wat, các thành viên cũng có vẻ chăm chú đến việc chụp ảnh nhiều hơn là chú ý đến những lời thuyết trình của hướng dẫn viên. Nhận thấy điều này, tôi và cậu hướng dẫn viên đã hội ý với nhau và thống nhất là chỉ tham quan thêm một điểm nữa trong vòng nửa tiếng rồi đi ăn trưa luôn. Đền Banteay Kdei là sự lựa chọn tối ưu nhất. Không hoành tráng về diện tích và cũng không tinh xảo về nghệ thuật điêu khắc như Angkor Wat, Banteay Kdei vẫn sở hữu những điểm đặc biệt khiến tôi phải chọn nó khi thiết kế chương trình. Được xây dựng vào cuối thế kỷ 12, đây là ngôi đền đánh dấu sự chuyển giao tôn giáo giữa đạo Bà La Môn và đạo Phật. Thật vậy, vua Jayavarman VII cho xây công trình này như là một tu viện kín dành cho đạo Phật, nơi các tu sĩ chỉ tập trung vào việc tu hành và ghi chép các tài liệu kinh kệ. Bản thân ngay trong từ Banteay Kdei đã cho thấy rõ dụng ý đó: banteaycó nghĩa là “khu phố” còn kdei có nghĩa là “gian phòng”, một khu vực với một loạt căn phòng nhỏ dùng làm nơi tĩnh tâm cho từng tu sĩ.
Cổng vào được đặt xà tinh Naga và sư tử như là những vị thần hộ pháp bảo vệ cho đền. Đây là những con vật linh thiêng có nguồn gốc từ đạo Bà La Môn. Điều này cho thấy sự chung sống hài hoà giữa đạo Phật và đạo Bà La Môn trong xã hội khơ me. Đạo Phật vẫn biết cách thừa hưởng những nền móng trước đó của đạo Bà La Môn để tiếp tục phát triển.
Xây ra như vậy nhưng có vẻ như trên thực tế, Banteay Kdei chưa bao giờ trở thành một trung tâm thu hút một số lượng lớn tu sĩ như vua Jayavarman VII mong đợi. Ngay từ khi xây xong, do thi công quá vội vàng cộng thêm việc sử dụng những vật liệu xây dựng có độ bền thấp, Banteay Kdei đã để lộ ra những nguy hiểm tiềm tàng dẫn đếp sụp đổ tường. Đó là lý do vì sao các tu sĩ không dám ồ ạt đến đây.
Khi quần thể đền Angkor được công nhận là di sản văn hoá Unesco, đa số các di tích được dành cho trùng tu và hạn chế số lượng sư và tu sĩ tu hành tại đây. Đền Banteay Kdei là một trong số hiếm di tích mà vẫn còn được sử dụng như là một nơi thờ cúng thường trực.
Thăm đền Banteay Kdei xong thì cũng đã đến trưa. Với cái nóng hừng hực, chúng tôi chọn ăn tại một nhà hàng địa phương có quạt trần và nằm khá gần hồ nước nhân tạo Sra Srang để tận hưởng những ngọn gió hiếm hoi thổi từ hồ vào. Nhà hàng này có một khu dành riêng cho ngủ trưa với 4-5 cái võng, rất tuyệt để làm một giấc. Chính quyền địa phương thật là khôn khéo trong việc quy hoạch du lịch khi chủ ý đặt nhà hàng này nằm gần hồ nước để hóng gió.
Cậu hướng dẫn viên địa phương nói rằng hồ Sras Srang này chỉ là một trong số rất nhiều hồ chứa nước nằm rải rác trong diện tích 400 km2, nhằm mục đích hỗ trợ hệ thống tưới tiêu thời đế chế Angkor. Nếu như người Angkor có thể đạt đến sự phồn thịnh thì chắc chắn một trong những nguyên nhân nổi bật nhất chính là công nghệ xây đê điều và kênh rạch để giữ nguồn nước của họ. Họ đã biết cách chuyển hoá quy luật tự nhiên của biển hồ Tonle Sap và dòng sông Mêkông thành một nguồn nước nhân tạo có thể điều tiết được nhằm chống lại những ngày tháng khô cằn. Đúng như một quy luật có thể thấy ở bất cứ đế chế hùng mạnh nào, ai khống chế được nguồn nước thì người đó sẽ trở thành kẻ mạnh.
Địa danh đầu tiên vào buổi chiều là Ta Prohm, có lẽ là ngôi đền nổi tiếng nhất chỉ đứng sau Angkor Wat nhờ bộ phim đắt khách truy tìm ngôi mộ cổ Tomb Raider. Kể từ khi trở nên nổi tiếng nhờ bộ phim Hollywood, Ta Prohm được gán cái tên “Jungle Temple”, có cái tên như vậy vì có đặc điểm bị hàng loạt cây cối hoang dại mọc tùm lum khắp nơi.
Nữ diễn viên Angelina Jolie thủ vai Lara Croft trong bộ phim bí mật ngôi mộ cổ năm 2001
Bên trong khuôn viên ngôi đền là một xứ sở của truyện cổ tích bởi những chiếc cây khổng lồ chồi rễ trên các phiến đá ngàn năm, như thể một con bạch tuộc đang dùng vòi siết chặt các cột và ăn tươi nuốt sống tất cả những gì nó tìm thấy. Ta Prohm cũng như đền Angkor Wat được các chuyên gia khảo cổ người Pháp tìm thấy vào thời kỳ toàn bộ Đông Dương là thuộc địa của Pháp. Tuy nhiên, người Pháp đã cố tình để nguyên hiện trạng các gốc rễ cây bám đầy vì cho rằng đó mới là một tuyệt tác của tạo hoá. Nhờ vậy, Ta Prohm ngày nay có một cá tính riêng biệt mà không ngôi đền nào khác có được. Cũng giống như đền Banteay Kdei, Ta Prohm được xây trong thời kỳ hưng thịnh nhất của đế chế Angkor vào thế kỷ 13 và giữ vai trò như là một tu viện kiêm trường học Phật giáo. Theo như những gì các chuyên gia khảo cổ giải mã được trên các phiến đá, xung quanh ngôi đền này là một ngôi làng có khoảng 100.000 người sinh sống và một trong những nhiệm vụ hằng ngày của những thần dân nơi đây là tổ chức các buổi cúng lễ và chăm sóc cho đền.
Nhìn từ bên ngoài vào thì thoạt đầu bạn chỉ phát hiện ra một cái cây cổ thụ to đùng mọc phía sau. Cũng thường thôi...
Nhưng nếu đi vào và nhìn từ góc khác thì mới thấy đây là một cái cây với những chiếc rễ bám chặt vào nóc đền, như thể một con bạch tuộc khổng lồ đang định ăn tươi nuốt sống ngôi đền. Mỗi một quốc gia sẽ gán cho cái cây này một biệt danh riêng. Người Pháp thì gọi nó là "cây phô mai" vì kiểu dáng rễ rủ xuống khiến họ liên tưởng đến hình ảnh một miếng phô mai bị chảy ra khi gặp phải lò nướng.
Đây chính là góc quay của bộ phim Tomb Raider khi Angelina Joie lao từ trong chiếc cửa nhỏ này ra và đi theo tiếng cười của một bé gái khơ-me. Người phương Tây gọi cái cây cổ thụ nhiều rễ này là "chewing gum tree" vì trông nó giống một bã kẹo cao su.
Như là một hiện thân của một ý tưởng triết lý, người ta cho rằng số mệnh của Ta Prohm giống hệt như vận mệnh đen đủi của đế chế Angkor. Thật vậy, thời kỷ đỉnh cao của một đế chế vào thế kỷ 13 là hàng loạt những cung điện nguy nga, một thời mà nền văn minh nhân loại có vẻ như đã chiến thắng thiên nhiên khi mà hàng chục ngàn người được huy động để nạo vét kênh ngòi, san bằng một khoảnh rừng rộng lớn. Thế nhưng, những phế tích của Ta Prohm ngày nay cũng là bằng chứng cho chính sự sụp đổ và suy tàn của đế chế này. Một cố đô đã từng có hơn 1 triệu thần dân giờ đây là một đống đổ nát hoang tàn và bị thiên nhiên thuần hoá trở lại. Những nét kiến trúc tinh xảo trên bề mặt tường giờ đây đang bị những rễ cây hay rêu phong lấn át.
Ở góc nhìn này, rễ cây lại có dáng vẻ giống một con trăn khổng lồ đang bò trườn lên bề mặt nóc đền
Nhờ có sự thuyết trình của cậu hướng dẫn viên, chúng tôi có dịp khám phá một số bí ẩn thú vị trên bề mặt điêu khắc của các bức tường. Tại một góc tường có đủ các thể loại con vật được khắc lên, có lẽ là những loài thú mà các vị tu sĩ tìm thấy được khi đi vào trong các khu rừng xung quanh: khỉ, hươu, thằn lằn, trâu, vẹt, cò… nhưng khó có thể giải thích được tại sao lại xuất hiện một con vật có hình thù giống con khủng long Stegosaurus!
Sau khoảng 1 tiếng thăm quan, chúng tôi thăm công trình cuối cùng trong ngày: quần thể Angkor Thom. Angkor Thom đóng vai trò nhưlà hoàng thành hoặc đầu não hành chính trong đế chế khơ me. Quần thể này đươc xây lên như để khuếch trương thanh thế của vị vua Jayavarman VII, sau khi ông ta đẩy lui giặc ngoại xâm Champa vào thế kỷ 13 và dần dần bành trướng lãnh thổ sang các nước lân cận.
| Đế chế Angkor (màu hồng) vào thế kỷ 13 dưới thời vua Jayavarman VII rất rộng lớn |
Kết cấu theo hình vuông, toàn bộ quần thể này có chiều dài mỗi cạnh là 3km và được bao bọc bởi một lớp tường thành cao 8m. Bên trong khu vực này đã từng bao gồm rất nhiều công trình dành cho tăng lữ, quan lại và hoàng tộc sinh sống. Tuy nhiên, trước mắt chúng tôi không còn gì nhiều thể hiện sự phồn vinh ấy. Chỉ có những phiến đá kiên cố thì còn tồn tại. Theo như các chuyên gia khảo cổ, chỉ có những công trình dành danh cho tôn giáo thì mới được xây bằng đá. Còn tất cả những thứ khác mang tính trần tục (bao gồm cung điện hay nhà ở dành cho người phàm tục) thì chỉ được xây bằng gỗ. Như vậy, dù là hoàng tộc đi chăng nữa, vua chúa khơ me cũng chỉ dám xây cho mình những cung điện bằng gỗ và dĩ nhiên gỗ không thể trường tồn cùng thời gian. Nếu để thăm toàn bộ Angkor Thom theo đúng chương trình tour thông dụng, bạn sẽ phải mất chừng 2-3 tiếng bên trong. Tuy nhiên, nhận thấy các thành viên đoàn đã khá là oải với cái nóng 35 độ và có phần suy giảm sự hưng phấn, tôi quyết định rút ngắn thời gian lại chỉ còn 1 tiếng và chỉ tập trung vào một di tích tiêu biểu nhất: đền Bayon.
Vua Jayavarman VII huy động vài ngàn con voi để vận chuyển vật liệu xây dựng nặng. Nhưng ngày nay, không còn nhiều voi nữa. Những con voi còn sót lại thì được sử dụng để chở du khách. Nếu như thời trước voi được sử dụng miễn phí thì ngày nay, du khách sẽ phải trả 15usd để có thể ngồi lên lưng voi trong vòng 30 phút!!!
Ở phía chân đền Bayon được bao bọc bởi một hệ thống tường với tổng chiều dài là 1.2km. Trên bề mặt tường là vô số các tác phẩm điêu khắc trạm trổ miêu tả lại cuộc sống đời thường của người dân khơme vào thế kỷ 13 cũng như các cuộc chiến tranh giữa đế chế Angkor và các vương quốc lân cận. Cậu hướng dẫn viên nói rằng có khoảng 10.000 nhân vật được khắc hoạ trên đó.
| Bức điêu khắc miêu tả lại trận thuỷ chiến nổi tiếng lịch sử giữa quân đội Angkor và nước Champa láng giềng. Vào cuối thế kỷ 12, người Champa liên tục tiến hành những cuộc xâm lăng định kỳ lên lãnh thổ Angkor và đã có lần tiến quân đến tận kinh đô Angkor. Tuy nhiên, vị vua Jayavarman VII đã khởi binh và đẩy lùi được quân xâm lăng. Trận chiến quyết định trên biển hồ Tonle Sap đã khiến cho quân Champa thua nặng nề. |
Người dân khơ-me đang luộc heo để chuẩn bị cho một dịp lễ hội. Barbecue Campuchia phiên bản thời Trung Cổ
Chi tiết gây chú ý cho tôi nhất chính là những nhân vật được cho là thương nhân cũng như binh lính Trung Quốc. Như vậy, có thể nói rằng mối quan hệ ngoại giao giữa đế chế Angkor và Trung Hoa đã có từ rất sớm, có thể còn sớm hơn so với những gì được ghi lại trên bờ tường. Trong số những người Trung Quốc đi sứ sang Campuchia, những tài liệu do ông Chu Đại Quan vào đời nhà Nguyên (cuối thế kỷ 13) đã ghi chép khá chi tiết, cho phép các nhà sử học sau này khôi phục lại được bối cảnh xã hội khơ me vào thời ấy như thế nào.
Trang phục kiểu búi tó và để râu dài được cho là miêu tả binh lính của Trung Quốc đang hành quân. Biên giới của đế chế Angkor kéo dài đến tận nước Lào ngày nay và rất có thể đã có một số xung đột quân sự giữa Trung Quốc của đời Tống và Angkor. Người ta không rõ là đây có phải trực tiếp là quân Tống được phái từ trung ương đến hay chỉ là quân được huy động bởi một nước chư hầu của Đại Tống.
Tuy nhiên, ngoài những xung đột quân sự này ra thì có vẻ như giữa hai đế chế cũng có rất nhiều trao đổi văn hoá và thương mại. Bức điêu khắc này cho thấy hai nhóm thường dân khơ -me và Trung Quốc đang chơi chọi gà với nhau. Nhóm người bên phải là Trung Quốc với đặc trưng búi tó và râu dài. Nhóm người bên trái là khơ-me với kiểu tai rất dài (theo quan niệm của người khơ me đương thời, tai dài là biểu hiện của những người sùng đạo Phật).
Quần thể Bayon là ví dụ điển hình nhất cho sự chuyển giao thế hệ giữa một đế chế Angkor chịu ảnh hưởng của đạo Bà La Môn sang một đế chế theo đạo Phật dòng đại thừa vào thế kỷ 13. Tất cả những khuôn mặt có nụ cười huyền bí này đều được cho là khuôn mặt của Phật Thích Ca. Tuy rằng đạo Phật dần dần chiếm thế thượng phong trong xã hội khơ me, đạo Bà La Môn và tầm ảnh hưởng của Ấn Độ không vì thế mà bị triệt tiêu. Nét kiến trúc Angkor hầu như vẫn được duy trì, chỉ có cách thức tiến hành các cuộc nghi lễ là bị thay đổi. Đền Bayon được thiết kế theo luật phong thuỷ của đạo Bà La Môn. Cụ thể, theo đạo này, vị trí cũng như hướng của các công trình xây dựng là một mô hình thu nhỏ của vũ trụ, nơi giao thoa giữa thiên đường và hạ giới. Bayon chính là điểm giao thoa ấy.
Theo phiên bản gốc, có tất cả 54 toà tháp trong ngôi đền Bayon tượng trưng cho 54 châu quận vào thời đỉnh cao của đế chế Angkor (thế kỷ 13). Ngày nay chỉ còn sót lại 37 toà tháp và mỗi toà đều có đỉnh với 4 cạnh là 4 khuôn mặt Phật, tượng trưng cho 4 tiết hạnh của Phật Thích Ca.
Cho dù bạn luồn lách qua hệ thống các đường dẫn chằng chịt, những bực tượng 4 mặt ấy vẫn luôn hiện diện bởi chúng quá nhiều! Nhưthể bọn chúng đang theo dõi bạn, truy đuổi bạn dù bạn có trốn ở xó xỉnh nào trong khuôn viên đền.
Chúng tôi thoát khỏi khuôn viên Angkor Thom bằng cổng nam, cổng vào duy nhất còn sót lại một cách hoàn thiện nhất trong số 4 cổng vào thành trước kia. Sự hoàn thiện ấy không những được thể hiện qua những hoạ tiết được bảo tồn trên cổng và còn cả những hàng tượng hộ pháp đứng hai bên đường. Đây là những hộ pháp trong truyện thần thoại của đạo Bà La Môn với hai phe thiện và ác.
Hàng tượng bên trái là thiên thần (khuôn mặt rất bình thản và có kiểu dáng mũ mão hình nón)...
bên phải là những ác quỷ (khuôn mặt dữ tợn và có mũ mão theo kiểu quân đội)....
Hai hàng tượng hai bên tượng trưng cho sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Có thể nhận thấy một số đầu tượng có màu sắc khá mới mẻ. Đây là những chiếc đầu được tạc theo phiên bản cũ đã bị đánh cắp trước đó. Quần thể Angkor đã từng là nạn nhân của những kẻ ăn cắp cổ vật trong một thời gian dài. Vì kích cỡ các pho tượng quá to nên chúng chỉ có thể cắt “thủ cấp” của tượng vác đi.
Vào buổi tối, chúng tôi thay đổi không khí bằng cách ăn buffet tự chọn và thưởng thức điệu múa Apsara, được coi là tinh hoa nghệ thuật của Campuchia. Theo truyền thuyết của đạo Bà La Môn đến từ Ấn Độ, Apsara là những nàng tiên nữ sống trên thiên đàng với những điệu nhảy làm mê hồn người. Khi đạo Bà La Môn du nhập đến Campuchia, người khơ me đã biến tấu một chút và chế ra điệu múa cung đình Apsara, được sử dụng trong các buổi tiệc tùng của hoàng gia.
| những điệu nhảy Apsara vẫn còn được lưu giữ trên bề mặt các bức tường của đền Angkor |
Các nhà sử học còn đang tranh cãi về thời điểm chính xác điệu múa này nhưng đại đa số đều thống nhất với nhau rằng nó sinh ra vào khoảng thế kỷ thứ 9 sau CN. Vào thời hoàng kim của để chế Angkor, điệu múa Apsara được sử dụng để tôn vinh chiến công của các vị vua sau những trận đại thắng mở rộng lãnh thổ. Người ta căn cứ vào điều này nhờ vào những di tích điêu khắc các nàng tiên Apsara trên bề mặt của rất nhiều ngôi đền trong quần thể Angkor. Theo dòng thời gian, điệu múa này đã tiến hoá nhiều và ngày nay, người ta còn sử dụng nó dưới dạng nhạc kịch miêu tả một số truyền thuyết đạo Bà La Môn như sử thi Ramayana. Nếu như những ai đã từng đi du lịch sang Thái Lan sẽ không khỏi thắc mắc tại sao điệu múa Apsara của Campuchia lại giống điệu múa truyền thống của Thái Lan vậy. Câu trả lời là bởi vì vào thời kỳ hoàng kim của đế chế Angkor, lãnh thổ nước Thái Lan bây giờ vốn dĩ là một vương quốc chư hầu (nước Siêm) và người Thái đã thừa hưởng khá nhiều nét văn hoá Angkor, trong đó có nghệ thuật múa. Vì thế, phải nói là điệu múa của Thái Lan giống Campuchia thì đúng hơn.
Phải xem biểu diễn này mới thấy đất nước Campuchia biết cách khai thác những di sản văn hoá của họ tốt như thế nào. Ở đây chỉ có duy nhất một điệu múa được công nhận là di sản phi vật thể của Unesco nhưng họ đã biết cách khai thác triệt đế dưới hình thức giải trí để thu tiền du khách. Ngẫm lại mà thấy xấu hổ cho đất nước Việt Nam chúng ta với sự đa dạng về văn hoá nghệ thuật nhưng không cái nào được khai thác ra hồn mặc dù năm nào cũng thấy tự đề cao mình với hàng loạt các hồ sơ được công nhận bởi Unesco, hết dân ca quan họ Bắc Ninh rồi đến chèo, nhã nhạc cung đình Huế, hát xoan, đờn ca tài tử, ca trù. Không một trường phái nghệ thuật nào đạt đến mức thống nhất quốc gia nhưkiểu Apsara và không một chiến lược phát triển nào được tiến hành một cách hiệu quả để làm đông đảo du khách yêu thích. Tôi không nghĩ rằng những du khách ở đây am hiểu một cách thấu đáo hàm ý của những động tác điêu luyện của các vũ công. Điệu Apsara rất khó để có thể hiểu, cũng như những giai điệu của ca trù vậy. Tuy nhiên, Apsara đã được “bình dân hoá” để làm tiết mục tiêu khiển cho khách. Nó được thực thi một cách cụ thể qua cách dàn dựng sân khấu lộng lẫy và được ghép cùng với bữa ăn tối. Khách đâu cần hiểu ý nghĩa của điệu nhảy, nhưng họ cảm thấy thoải mái khi có cảm giác vừa ăn tối vừa xem.
Ở Việt Nam chúng ta, cũng đã có những kiểu dịch vụ tương tự như vừa ăn tối, theo kiểu bài trí một khu sân khấu cho các nhóm nghệ sĩ biểu diễn và bàn ghế được bày biện xung quanh. Ta có thể thấy loại hình này ở nhã nhạc cung đình Huế, nhà hàng Rừng ở Hà Nội với kiểu ăn tối + nghe nhạc dân tộc, tại thuyền Indochina Junk ở HCM với kiểu ăn tối trên thuyền + nghe nhạc dân tộc hay là vừa nghe đờn ca tài tử ở Bến Tre vừa ăn trưa. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rõ rằng không có bất cứ một dòng nghệ thuật nào được phục vụ rộng rãi tử bắc xuống Nam. Nhã nhạc huế chỉ có thể ra oai ở miền Trung nhưng lại không thể nào vươn ra Bắc hay vào Nam để phục vụ du khách, tương tự như ca trù ở miền Bắc hay đờn ca tài tử ở miền Nam. Ngược lại, hãy nhìn vào Apsara, dù bạn ở Phnom Penh hay Siem Reap hay Sihanouville thì người Campuchia chit đánh trọng điểm vào điệu nhảy này như là một thương hiệu quốc gia. Chính sự quá đa dạng và không đánh trọng điểm đã khiến cho các loại hình nghệ thuật ở Việt nam không thẻ ngóc đầu lên để theo kịp chúng bạn trong khu vực Đông Nam Á. Đúng vậy, chúng ta đang thiếu một thương hiệu văn nghệ mang tầm quốc gia. Tây Ban Nha có điệu flamenco, Argentina có Tango, Brazil có Samba, Trung Quốc có nhạc kịch, Campuchia có Apsara, Lào có Lamvong, đảo Bali có điệu Barong. Còn Việt Nam chúng ta thì chẳng có gì hết.
Thái balo


































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét