NGÀY 3 : CAMPUAN / TAMPAKSIRING / PENGLIPURAN
Thị trấn Ubud được bao quanh bởi khá nhiều con suối và sông nhỏ, một trong những nguyên nhân mà người Bali cổ xưa chọn nơi đây làm thủ phủ. Trước khi tiếp tục hành trình tìm hiểu văn hóa làng mạc mà Thái balo đã đề cập đến ở phần trước, tôi bắt đầu buổi sáng bằng một cuộc tản bộ thảnh thơi giữa thiên nhiên tuyệt đẹp nơi đây. Tôi đi men theo một con đường mòn mà các quyển cẩm nang du lịch vẫn thường gọi là Campuhan, con đường mòn dài chừng 7km, nằm trọn trên đỉnh một ngọn đồi. Trong tiếng Bali, Campuhan có nghĩa là “nằm giữa hai con sông” vì lý do địa lý của nó. Đối với những bạn nào đã từng đi trekking, du lịch khám phá qua các khoảnh ruộng bậc thang ở Sapa thì việc đi Campuhan không có gì khó khăn cả.
Đường đi đến con đường này được chỉ dẫn khá là chu đáo. Từ trung tâm Ubud, tôi đi bộ về phía tây mem theo một con đường nhựa chính tên là Jalan Raya Ubud. Con đường này dẫn tôi đến một khách sạn có tên là Ibah Hotel và ngay cạnh đó là một tấm biển chỉ dẫn “hướng đi đến Campuhan Ridge”.
Điểm xuất phát của con đường này là một ngôi đền có tên là Pura Gunung Lebah. Đây được coi như một di tích lịch sử chứng minh cho sự du nhập khá sớm của đạo Hindu vào đảo Bali. Vào thế kỷ 8, tức là chỉ một thời gian ngắn trước khi Ubud được thành lập, một nhóm tu sĩ truyền đạo Hindu đã dừng lại ở địa điểm nằm giữa hai con sông và cho đặt mốc xây một miếu thờ đầu tiên, đánh dấu sự có mặt của đạo này trên đảo. Sau này, ngôi miếu thờ này được sửa sang và mở rộng hơn rồi trở thành ngôi đền khang trang như ngày nay.
Trong 2-3km đầu thì phải lên dốc một chút nhưng sau đó thì con đường này thoai thoải xuống đồi rồi hướng đến những ngôi làng nhỏ. 7km này là một dải đất với một bên là ruộng xanh và một bên là một loạt các khách sạn và villa cao cấp với các ban công hướng về phía sông. Khắp nơi là những dãy cây dừa xen lẫn với những thảm cỏ cao mà người Bali dùng để lợp mái nhà.
Khi bắt gặp quán cà phê Karsa Café thì có thể coi nhưđã đi được một nửa chặng đường rồi. Đây là điểm dừng chân không thể bỏ qua và có lẽ cũng là quán duy nhất có view đẹp hướng về phía cánh đồng ruộng mênh mông. Đây là lý do vì sao đa phần khách du lịch đều nghỉ chân tại đây, gọi một đồ uống và ngồi trong các chòi canh lợp cọ và chiêm ngưỡng khung cảnh thơ mộng.
Sau khoảng 15 phút nghỉ ngơi, tôi tiếp tục hành trình đi bộ thêm chừng 5km nữa qua một ngôi làng có tên Payongan. Tại đây ,tôi lạc vào khu vực có khá nhiều ngôi nhà xây san sát nhau với rất nhiều khung tranh được triển lãm bên ngoài.
Đây chính là khu vực mà các nhà họa sĩ phương Tây vào đầu thế kỷ 20 đã từng lui tới đây sinh sống trong thời gian họ tìm nguồn cảm hứng sáng tác trên đảo Bali. Đó là những Antonio Blanco hay Bonnet. Nếu như Bali nổi tiếng trong giới du lịch phương Tây như ngày nay thì có lẽ phải kể công của những vị họa sĩ này, những thế hệ đầu tiên cho ra đời các tác phẩm tranh tuyệt đẹp miêu tả phong cảnh Bali. Có thể nói, những tác phẩm đó giống như các cuốn tạp chí hoặc bưu thiếp khổ lớn quảng bá Bali như một thiên đường hạ giới. Tôi nghe nói có một viện bảo tàng tranh gì đó của mấy vị họa sĩ này nhưng vì đã no nê với khám phá nghệ thuật hôm trước, tôi không ghé vào thăm.
Từ ngôi làng Payogan, tôi tính tiếp tục đi bộ theo con đường khác để quay trở về trung tâm Ubud. Theo như những tính toán theo Google Map thì khoảng cách 6km quay trở lại có vẻ cũng không mất nhiều thời gian lắm, chừng 1 tiếng đi bộ là cùng. Nhưng trên thực tế, khoảng cách ấy mất nhiều thời gian hơn tôi tưởng. Đi đã được hơn nửa tiếng rồi mà tôi vẫn chưa hoàn thành được 1/3 con đường. Đang định chuẩn bị bỏ tiền ra nhờ một cậu xe ôm nào đưa về thì tình cờ tôi bắt gặp một cậu lái xe tải nhỏ chở hàng dừng lại và cho tôi đi nhờ xe. Tôi thực sự cảm động trước sự hiếu khách của cậu ấy. Dọc đường, cho dù cả hai bên không nói được câu gì với nhau (tôi không biết tiếng Bali còn cậu ta không biết tiếng Anh), nhưng có lẽ cậu ấy hiểu sự biết ơn của tôi lớn biết nhường nào qua những cử chỉ ôn tồn từ phía tôi.
Khi quay trở về trung tâm Ubud, tôi lập tức thuê xe máy của ông chủ trọ để thuận tiện cho việc du ngoạn trong buổi chiều. Dịch vụ cho thuê xe máy ở đây khá là giống ở Việt Nam, cũng kiểu lách luật. Thông thường, ai đi xe máy ở đây cũng phải có bằng lái xe, trừ người ngoại quốc. Cảnh sát Bali sẽ không động chạm gì đến bạn, họ sẽ không bắt bạn dừng xe để kiểm tra giấy tờ nếu như họ biết bạn là người ngoại quốc. Tuy nhiên, việc đội mũ bảo hiểm thì được quản lý nghiêm khắc hơn, dù là bạn ngoại quốc hay không thì đều phải đội nó. Nạp đầy xăng xong, tôi nhanh chóng tìm một quán nào đó để ăn trưa. Nhờ việc vi vu qua những con đường đồng quê mà tôi có dịp khám phá những quán ăn warung đặc trưng Bali. Nói nôm na, warung ám chỉ những quán ăn bình dân dọc đường khá giống ở Việt Nam. Các món ăn được nấu từ trước và chủ quán chỉ việc hâm lại cho nóng rồi phục vụ khách. Tại hòn đảo này, có vẻ như người địa phương rất chuộng món cơm rang nên cái gì cũng sẽ là cơm rang trộn với cái gì đó.
Chương trình của buổi chiều là phần tiếp tục của hành trình tìm hiểu quá khứ hoàng gia xung quanh Ubud. Nếu như trong phần trước, tôi đề cập đến quy hoạch của thị trấn Ubud như kiểu hoàng thành, nơi cư ngụ của giới hoàng gia quý tộc và những làng nghề xung quanh Ubud thì trong buổi chiều ngay hôm nay, quá khứ hoàng gia được thể hiện ở một khía cạnh khác, khía cạnh tâm linh. Đã từng được tiếp cận nhiều nền văn hóa với tôn giáo khác nhau (Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hindu, Do Thái, tục cúng thần linh Ai Cập), tôi đúc kết ra một điều: ở bất cứ một nền văn minh nào, giới cai trị bao giờ cũng sử dụng tôn giáo như một công cụ chính trị hiệu quả để quản lý lãnh thổ của họ. Giới hoàng gia của đảo Bali cũng không thoát khỏi quy luật muôn thuở này. Họ đã biết cách lồng đạo Hindu và tín ngưỡng địa phương để tạo lòng tin của thần dân vào sự cai trị của họ. Chuyến du ngoạn của tôi đến địa danh Gunung Kawi (cách Ubud chừng 20 phút đi xe máy) là một lời giải thích rõ nét nhất cho nhận xét này.
Không phải ngẫu nhiên mà người Bali gọi đây là “thung lũng của những vị vua”. Ngay từ thế kỷ thứ 11 sau CN, các triều đại phong kiến trên đảo đã cho xây những lăng tẩm bằng đá và biến cả khu vực rộng lớn này thành một đặc khu nơi các vị vua chúa yên nghỉ. Mặc dù đạo Hindu đã được truyền bá vào đảo Bali và thế kỷ thứ 9 sau CN, đạo này vẫn mất khá nhiều thời gian để có thể cạnh tranh với những tín ngưỡng địa phương như là tục cũng tế thần linh. Trong khoảng giai đoạn những thế kỷ 9-13 sau CN, đạo Hindu vẫn đang trong quá trình khẳng định mình và có khuynh hướng hoà mình và sống chung với tất cả các phong tục địa phương kia.
| Con đường đi qua thị trấn Tampaksiring là con đường dẫn đến Gunung Kawi, một địa danh thu hút khá nhiều khách du lịch. Vì thế nên không khó hiểu khi dọc ven đường là những cửa hàng bán đồ lưu niệm. |
Các thệ hệ vua chúa trên đảo Bali là những người rất khôn khéo trong việc pha trộn các loại hình tín ngưỡng này. Để cai trị dân, tôn giáo được sử dụng như một công cụ chính trị để mị dân. Thần dân đảo Bali ngày càng có vẻ khá sùng đạo Hindu. Vậy nên các vị vua chúa này có vẻ như tự phong mình ngang hàng các vị thần Hindu. Qua đó, cúng tế linh hồn của các vua chúa vô hình chung đồng nghĩa với cúng tế thần Hindu. Tôn sùng thần Hindu đồng nghĩa với tôn sùng vua chúa và phải nghe theo tất cả các lời nguyền của vua chúa.
| cổng vào Gunung Kawi |
Đường dẫn vào địa danh này không khó cho lắm. Từ đường cái chính của thị trấn Tampaksiring, có một biển chỉ “Objek Wisata Gunung Kawi”. Trước khi vào cổng, du khách sẽ phải làm một nghi lễ nho nhỏ để có thể vào cửa thăm quan. Họ phải được vẩy nước thánh vào người và quấn quanh mình một dải khăn có tên là sarong. Loại khăn này có kích cỡ gần bằng một chiếc khăn trải bàn và chỉ có một loại duy nhất cho cả nam và nữ. Việc phải mang theo chiếc khăn này là một điều bắt buộc khi bạn tham quan bất cứ ngôi đền nào trên đảo Bali
| người Bali dùng loại nước này vẩy vào du khách trước khi họ vào cổng tham quan |
Sau cổng vào, phải mất chừng 400 bước được lát đá đề đi xuống một con suối mang tên Pakerisan. Từ đây, con đường dẫn đến khu thánh đường của các lăng tẩm là một nẻo đường tuyệt đẹp, đi men theo một con suối và trải dọc là những thửa ruộng bậc thang đặc trưng Bali với những cây dừa sum xuê. Trong sự tĩnh lặng của địa danh này, những gì bạn nghe thấy là tiếng róc rách của nước đến từ những con kênh tưới tiêu đồng ruộng và tiếng cuốc đất của nông dân.
| trên đường men theo con đường lát đá xuống dóc, tôi thỉnh thoảng gặp những phụ nữ Bali trong trang phục truyền thống đội lên đầu các mâm đồ cúng bái. |
Đi hết con đường này sẽ là cái đáng xem nhất của Gunung Kawi, một loạt lăng tẩm được thiết kế nằm trọn vào vách đá như những kiệt tác nghệ thuật điêu khắc khổng lồ. Toạ lạc trong một khu rừng rậm rạp, khi đứng trước những công trình đồ sộ này, bạn có cảm giác như trong phim truy tìm kho báu cổ của Indiana Jones. Những lăng tẩm bằng đá và nằm trong vách đá kiểu này có tên gọi là candi, gợi nhớ lại tầm ảnh hưởng rất quan trọng của đạo Hindu đến từ Ấn Độ. Truyền thuyết dân gian kể lại rằng tất cả những phiến đá khổng lồ này đều được tạo nên nhờ móng tay của một người tên là Kebo Iwa chỉ trong một đêm.
| 4 phiến đá Candi nhìn từ phía xa |
| Những phiến đá này là một phép ẩn dụ, giống như một chiếc cổng giao thoa giữa trần gian và thế giới bên kia |
Công trình kiến trúc này có một điểm khác biệt hoàn toàn so với tất cả các ngôi đền khác trên đảo Bali. Thật vậy, trên hòn đảo này, bạn luôn tìm thấy biển chỉ dẫn đến các ngôi đền với chữ “pura”, vì 99% đó là một ngôi đền thờ một vị thần thánh của đạo Hindu. Gunung Kawi thì ngược lại. Những lăng tẩm bên trong không được gọi là pura mà là candi bởi vì người ta thờ vua chúa chứ không thờ thần. Bên trong các lăng tẩm khổng lồ này thực ra không có bất cứ xương cốt nào của vua chúa cả. Vì sao vậy? Theo phong tục ma chay của đạo Hindu, quá trình từ lúc một người dân trên đảo Bali qua đời cho đến khi để tang được chia làm 3 bước: hoả táng rồi vứt tro xuống biển, lễ cầu siêu để bóc tách phần hồn ra khỏi phần người rồi tiễn đưa linh hồn sang thế giới bên kia, và cuối cùng là xây một dạng lăng tẩm hoặc miếu thờ làm nơi để linh hồn ấy toạ lạc. Gunung Kawi được xây lên để phục vụ cho công đoạn cuối cùng này. Cá nhân tôi chưa đến Ấn Độ bao giờ nhưng tôi có thể thấy những công trình kiểu đào sâu trong vách đá như thế này giống nhưnhững gì tôi thấy tại tàn tích Petra ở Jordan. Tất nhiên Gunung Kawi không có quy mô lớn và độ tinh xảo như Petra.
| kiểu các căn phòng nhỏ được khoét sâu trong vách đá như thế này làm tôi liên tưởng đến khu tàn tích Petra ở Jordan, nơi tôi có dịp đặt chân đến năm 2010 |
Ngoài những lăng tẩm dành cho vua chúa, Gunung Kawi cũng có những lăng tẩm quy mô nhỏ hơn dành cho các hoàng hậu và thê thiếp của vua chúa. Và sau này, người ta còn cho đào thêm một số công trình tương tự nhưng không phải nhằm mục đích cho lăng tẩm mà là cho mục đích tu hành khổ hạnh. Các vị cao tăng của đạo Hindu và thậm chí là đạo Phật đã từng lui đến nơi thanh tịnh này và tự nhốt mình dài ngày vào trong các lỗ hở này để tu hành. Thật đúng là thanh tịnh bởi trong sự im lặng đến là thường của thiên nhiên, bạn hầu như không nghe thấy gì, thậm chí là cả tiếng suối róc rách hay chim chóc cũng không nghe thấy.
| gặp xong nhóm người tham gia buổi lễ, tôi lại gặp tiếp những toán người khác đang hì hục tự tay làm những mâm cúng bái rất công phu. Đây là một khung cảnh mà hầu như ngày nào tôi cũng bắt gặp trên đảo Bali |
Theo các chuyên gia khảo cổ, trước đây có khá nhiều công trình lăng tẩm theo kiểu treo leo trên vách đá nhưthế này nhưng do có quá nhiều động đất và sạt lở nên đa phần các di tích này đều bị chôn vùi sâu dưới lòng đất. Vì nhiều lý do khách quan, có vẻ như chính quyền địa phương cũng không mặn mà lắm với việc chi tiền cho các công trình khai quật.
Tôi rời Gunung Kawi và tiếp tục du ngoạn đến một địa danh tiếp theo là Tirta Empul, cách đó không xa. Đây cũng được coi là một địa danh linh thiêng bậc nhất đảo Bali và cũng có ít nhiều liên quan đến vua chúa. Trong tiếng Bali, tampak có nghĩa là “cây cọ” còn siring có nghĩa là “người cầm quyền”. Cả cụm từ này tạm dịch chung là “ông vua cây cọ”. Theo truyền thuyết kể lại, xưa kia có một ông vua thần thông quảng đại có thể sử dụng khá nhiều loại phép màu. Chính vì sở hữu những khả năng ngoại cảm này nên ông ta trở lên kiêu ngạo. Ông ta tự cho mình là một thần đồng có thể sánh nganh với thần mặt trời nên đã bắt thần dân xây rất nhiều đền miếu để tôn thờ ông ta như một vị thần. Những công trình xây dựng đồ sộ đã làm kiệt quệ ngân khố quốc gia và làm rất nhiều người thiệt mạng. Bức xúc trước những dự án vô lý đó, thần mặt trời đã phái thiên binh xuống trần gian để trừng phạt kẻ hỗn xược kia. Quá sợ hãi, vị vua trốn biệt vào rừng. Để tránh không cho những kẻ truy sát lần ra dấu vết, ông ta đi rón rén theo kiểu chỉ dùng gót chân. Với những vết lụt hình tròn trên đất, ông ta hi vọng rằng sẽ khiến cho đám người kia tưởng lầm là vết chân thú vật. Tuy nhiên, kế hoạch ấy đã bị phá sản hoàn toàn, đám thần dân vẫn tìm ra được vị vua này và truy sát cho đến cùng. Không hiểu bằng cách nào, vị vua này rải thuốc độc trên tất cả các nguồn nước suối trong khu vực khiến cho thiên binh nhiều người bị ngộ độc khi uống phải. Thần mặt trời thấy thế bèn dùng phép giải độc và cho tạo ra một cái ao nước giải độc có tên là Tirta Empul. Thiên binh sau khi được giải độc tiếp tục đuổi theo vị vua kia. Kết thúc câu truyện là việc vị vua kia cuối cùng cũng bị bắt sống. Khu rừng mà ông vua bỏ trốn là một khu rừng cọ um tùm. Vì thế, sau này người ta gọi khu rừng này là Tampaksiring. Cái ao Tirta Empul do thần mặt trời tạo ra tồn tại đến ngày hôm nay và trở thành một vùng đất thánh rất được dân Bali sùng bái. Với sự tích giải độc cho thiên binh, họ cho rằng những ai tắm ở đây thì đều có thể khỏi bệnh. Tirta Empul đã trở thành một dòng nước thánh trong lòng người dân Bali. Hàng năm, hàng trăm ngàn người đổ về đây để nhảy xuống nước tắm với hi vọng chữa những bệnh tật. Nếu được phép so sánh, Tirta Empul có vai trò quan trọng như chùa Hương vậy.
Hôm tôi vào thăm thì rơi vào một ngày trong tuần thế nhưng đã có rất nhiều toán người Bali đến đây để tắm nước thánh và cúng lễ. Điều đó đủ để cho thấy rằng họ sùng đạo đến mức nào, bất kể là ngày thường hay cuối tuần, họ đều đầu tư rất nhiều thời gian vào việc cúng bái. Đôi khi tôi tự thắc mắc thế này thì họ lấy thời gian đâu ra để làm việc nhỉ? Thông thường, cứ một tiếng sẽ lại có một cuộc tập hợp nhiều nhóm người để cùng nhau cầu nguyện, dưới sự chủ trì của một pháp sư. Một cuộc cầu nguyện kéo dài tầm 15 phút rồi sau đó đường ai nấy đi.
Cấu trúc của khuôn viên Tirta Empul tuân theo những chuẩn mực của đạo Hindu với tầm quan trọng của con số 3. Ở đây, các khu vực tắm rửa được phân thành 3 nơi: 1 nơi dành cho dân thường, 1 dành cho vua chúa và 1 dành cho người chết. Để vào được đây, tất cả mọi người, dù là địa phương hay du khách thì đều phải mặc một loại vải quấn quanh người có tên là sarong.
| Biển chỉ dẫn ghi rõ : "phụ nữ nào đang trong chu kì kinh nguyệt thì không được vào". |
Trên hòn đảo này, dù là ở Tirta Empul hay ở bất cứ một ngôi đền linh thiêng nào khác thì bạn đều phải mặc nó nhưlà một nghi lễ bắt buộc. Thông thường, ngay ở cổng vào luôn có một văn phòng nơi du khách có thể tạm thuê chiếc khăn này. Còn tôi thì không cần vì đã mua một chiếc ở khu chợ Ubud vài hôm trước đó.
Những người Bali đến đây, sau khi làm thủ tục cũng bái tại một ngôi miếu ở ngoài cổng thì bắt đầu vào chỗ bể nước để tắm. Một số người thì mang theo chai nước để đổ vào đó. Có lẽ họ sẽ mang nước thánh này về nhà dùng làm nước vẩy vào mỗi buổi sáng.
Trên toàn đảo Bali, người ta nói rằng có khoảng 6-7 nơi có độ linh thiêng giống nhưTirta Empul, trong đó phải kể đến Besakih Temple, Tanah Lot Temple, Uluwatu Temple, Ulun Danu Temple, Goa Lawah Temple và Taman Ayun Temple. Trong hơn 10 ngày trên đảo, tôi may mắn được thăm quan phần lớn trong số này ngoại trừ Taman Ayun và Lawah.
Trước khi quay trở lại Ubud thì tôi còn dừng thêm tại một điểm nữa là Penglipuran. Penglipuran có thể được coi như một mô hình điển hình cho văn hóa làng mạc của Bali và cũng là một trong những ngôi làng giữ được những nét kiến trúc thuần túy nhất của đảo. Nếu như những ai muốn biết đến cấu trúc một ngôi nhà truyền thống Bali như thế nào thì chắc chắn Penglipuran là câu trả lời. Trong phần trước, tôi đã đề cập đến cấu trúc truyền thống của một ngôi nhà rồi, nhưng phần lớn là nhờ những lời giải thích của ông chủ nhà trọ và bản thân ngôi nhà của ông ta cũng đã có khá nhiều chi tiết thay đổi mang tính hiện đại hóa. Còn tại ngôi làng Penglipuran này, những ngôi nhà truyền thông mà tôi kể đến có nhiều hơn, đồng nhất hơn về kiến trúc. Những chất liệu xây dựng như tre, nứa, cọ, đất nung được giữ gần như nguyên vẹn. Để giúp cho du khách thế giới hiểu thêm rõ hơn về kiến trúc truyền thống của đảo Bali, ngôi làng này đã được quy hoạch theo các tiêu chuẩn du lịch quốc tế từ năm 1992.
Trong phần trước, tôi đã miêu tả khá kỹ về cấu trúc của một ngôi nhà truyền thống Bali và tại ngôi làng này, ta có thể tìm thấy những điểm tương đồng đặc biệt là vai trò của tường nhà. Như đã nói ở phần trước, người Bali rất tin tưởng vào sự tồn tại của các loại ma quỷ lởn vởn ngoài đường. Vì thế, họ cần phải xây một hệ thống tường bảo vệ và đặc biệt là một chiếc cổng có phù phép để ngăn chặn không cho ma quỷ xâm nhập vào nhà. Chiếc cổng này chính là điểm đặc trưng của ngôi nhà truyền thống Bali. Nó không to cho lắm, chắc là chỉ vừa đủ để hai người vừa ra vừa vào cùng một lúc và thông thường hai bên được trang bị hoặc hai bức tượng giống như chiếc bình phong hoặc là nơi để người ta thờ cúng hằng ngày.
| điểm đặc biệt ở Penglipuran là cách người ta đặt biển số nhà. Trên mỗi một tấm biển như thế này, ngoài số nhà, người ta còn liệt kê số đàn ông và phụ nữ của cả hộ gia đình là bao nhiêu |
Về mặt quy hoạch ngôi làng, cấu trúc của Penglipuran tuân theo luật phong thủy Bali và tư tưởng đạo Hindu. Theo quan niệm người Bali, cấu trúc một ngôi làng cũng giống như cấu tạo của một con người, nó cũng có đầu, thân và chân. Nếu như đầu của chúng ta là nơi chứa bộ não điều khiển thì đầu của một ngôi làng Bali là nơi tập trung khu đền thờ cũng bởi tôn giáo chính là bộ não điều khiển cuộc sống tâm linh của họ. Thêm nữa, vị trí của khu đền này luôn hướng đông bắc, về phía núi Anung, nơi được cho là linh thiêng nhất trên đảo và hội tụ một nguồn từ trường bất tận.
| nằm ở địa đầu của làng, đây chính là vị trí đặt làm ngôi đền để tập hợp toàn bộ dân làng mỗi khi có dịp lễ hội gì đó |
Phần “thân” của ngôi làng là nơi tập trung dân cư. Vì vậy, đây là nơi ở của các hộ gia đình. Phần “chân” của ngôi làng theo quan niệm của người Bali là nơi mà những gì đã đến thời kỳ cuổi của luật luân hồi phải quay lại vị trí ban đầu của nó. Ứng dụng vào trong thực tế, đó có thể là nơi đổ rác công cộng, vì rác sau khi qua hồi kết của chu kỳ sử dụng, có thể được tái tạo thành sản phẩm mới để tái sử dụng. Đó cũng là nơi tập trung nghĩa địa bởi người quá cố khi đã qua cuộc đời này, sẽ có thể lại đầu thai và bắt đầu một cuộc đời mới.
| biểu tượng của đạo Hindu, minh chứng dấu ấn của Ấn Độ trên đảo Bali |
Buổi tối tại Ubud là một buổi tối đáng nhớ bởi tôi có dịp xem biểu diễn một điệu múa truyền thống Bali có tên là Barong. Thực ra, đây là một cách để tôi “đòi lại vốn” khi để lỡ buổi biểu diễn này khi đến ngôi làng Batu Bulan hôm trước đó. Đối với người Bali, nhảy không chỉ đơn thuần là một nghệ thuật mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống tôn giáo của họ.
Theo truyền thống, các điệu nhảy đều ít nhiều liên quan đến những buổi cúng lễ, người Bali nhảy múa để mua vui cho thần thánh và cũng là để xua đuổi những cô hồn quanh quẩn đâu đó trên trần gian. Trên hòn đảo Bali này có khá nhiều trường phái nhảy múa khác nhau nhưng những điệu phổ biến nhất mà tôi có dịp được xem thì có 3 loại: Legong, Kecak và Barong. Barong là điệu múa phổ biến nhất và được du khách biết đến nhiều nhất. Barong bắt nguồn từ barhuang, trong tiếng Bali có nghĩa là con gấu, một loài vật được cho là linh thiêng trên hòn đảo này. Thông qua các tiết mục múa barong là một cốt truyện kể về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Theo truyền thuyết kể lại, Rangda là một mẫu hậu sống vào khoảng thế kỷ thứ 10 trên đảo Bali này. Bà bị đức vua trừng phạt cho đi đày trong rừng sâu vì tội dám bí mật sử dụng các loại phù phép tà đạo.
Tại khu rừng này, bà đã cho triệu hồi tạo ra một quân đoàn ác quỷ hùng mạnh với hi vọng một ngày nào đó sẽ quay trở lại kinh thành và trả thù đức vua và con trai ông ta. Có thể có truyện này là một nguyên nhân mà người Bali cổ xưa tự khịa ra để làm bằng chứng giải thích cho những hiểm nguy tiềm tàng trong các khu rừng rậm rạp trên đảo. Có vẻ như họ cũng có quan niệm “rừng thiêng nước độc” như người Việt chúng ta. Cuộc chiến diễn ra rất khốc liệt và quân đội của kinh thành gặp hết thất bại này đến thất bại khác. Trong tình hình nguy cấp như vậy, đức vua buộc phải nhờ vả đến sự giúp đỡ của Barong, một thể loại thần linh hướng thiện có nguồn gốc từ quái vật .
Nhân vật Barong trên sân khấu thường được thể hiện dưới dạng một con thú lai tạp giữa hổ, sư tử và bò mộng. Hình thể của con vật Barong này không được đồng nhất cho lắm. Tùy vào nơi xem biểu diễn trên đảo Bali mà nó sẽ có những hình thù khác nhau, có nơi thì nó có hình giống sư tử hơn, có nơi thì giống lợn rừng, nơi thì giống voi… Cần phải có hai người để đóng vai Barong và nếu nhìn thoáng qua, nó khiến người xem liên tưởng đến món múa kỳ lân của Trung Quốc. Cuộc chiến giữa Barong và mụ phù thủy Rangda diễn ra rất ly kỳ với những cuộc ăn miếng trả miếng bằng phép thuật, nó khiến chúng ta liên tưởng đến những bộ phim chưởng Hồng Kông. Rangda dùng chiêu “nhất dương chỉ”, Barong trả miếng bằng “giáng long thập bát chưởng”. Rangda hoàn đòn bằng “kamejoko”, Barong đáp trả bằng “xaydada đi đời nhà ma”.
Trên sân khấu, sự ăn miếng trả miếng bằng pháp thuật này được thể hiện qua màn trình diễn của các tráng sĩ múa kiếm. Họ là hiện thân của những binh lính của nhà vua chiến đấu chống lại mụ phù thủy Rangda. Nhưng khi mụ ta tung tà phép, tất cả binh lính bị nhiễm bệnh dại và tự dùng kiếm tàn sát lẫn nhau, thậm chí là tự sát. Đó là lý do vì sao trong lúc diễn, các diễn viên múa cứ lấy kiếm đâm lia lịa vào ngực mình. Sau một cuộc chiến rất dài, cuối cùng Barong đã dành chiến thắng, tượng trưng cho cái thiện thắng cái ác. Sự chiến thắng này được thể hiện qua sự xuất hiện của một vị pháp sư trên sân khấu. Ông ta hiện diện giữa lòng đám đông binh lính đang tàn sát lẫn nhau. Ông ta phù phép và thế là tất cả binh lính được hóa giải. Vì cốt truyện ít nhiều có yếu tố tâm linh, điệu nhảy barong có mối quan hệ mật thiết đến đời sống tín ngưỡng của người Bali. Các bộ mặt nạ được dùng để biểu diễn điệu barong được coi như những hiện vật linh thiêng. Vì thế, trước mỗi show diễn, chúng được vẩy nước thánh và luyện chú và xung quanh sân khấu biểu diễn luôn được trang bị các thể loại đồ cúng tế. Chúng ta có thể coi như quá trình diễn ra điệu nhảy này giống như một cuộc cúng tế vậy.
Các điệu nhảy thường được tô điểm thêm phần đặc sắc nhờ một dàn nhạc công chơi phụ hoạ phía sau. Dàn nhạc này thường được gọi là Gamelan, với khá nhiều nhạc cụ có hình thù và tiếng vang lạ lẫm. Trong số tất cả các nhạc cụ này, có một loại đã khiến tôi phải suy ngẫm và sau một thời gian tìm hiểu đã khám phá ra một điều thú vị. Đó chính là cồng chiêng. Ngay từ hôm đầu tiên đặt chân đến Ubud, tôi đã nghe thoang thoảng tiếng vang này và đã nghĩ mãi không hiểu tại sao nó lại quen đến thế.
Thì đúng rồi vì nó nghe giống tiếng cồng chiêng mà các đồng bào dân tộc Ê-đê và Mơ-nông vẫn thường sử dụng trong những dịp cúng lễ. Trùng hợp chăng? Không, cái gì cũng có lô–gích của nó. Và tôi chỉ có thể ngẫm ra lời giải thích lô –gích này vào cuối năm 2012, khi có một buổi nói chuyện thú vị với Mark Rapoport, một chuyên gia người Mỹ chuyên nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Tại sao các đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên lại có những phong tục tập quán, đặc biệt là thói quen sử dụng cồng chiêng giống người dân Bali đến vậy? Câu trả lời, đó là từ cách đây rất lâu rồi, đã có một làn sóng di cư của những bộ lạc sống rải rác trên các hòn đảo nhỏ của Đông Nam Á lên đất liền. Các bộ lạc sống ở quần đảo Indonesia, Borneo (Malaysia) hay Philipines men theo đường biển đổ bộ vào dải bờ biển rất dài của Việt Nam. Rồi từ đó di cư dần lên những vùng cao hơn như Tây Nguyên để sinh sống. Đó là lý do tại sao hậu duệ của họ, những người Ê-đê, Mơ-nông hay Katu có những nét phong tục rất giống với các bộ lạc ở Bali hay Borneo. Hãy nhìn vào những chiếc cầu thang bằng gỗ hay cái cách mà nhà rông được xây hẳn lên cao so với mặt đất. Đó chẳng phải là một điều gợi nhớ nguồn gốc từ biển của họ đấy sao? Xây cao để tránh nước lũ từ biển tràn vào đảo, ấy thế mà họ đang ở những vùng đất cao của Tây Nguyên cơ mà.
Thái balo.
Thái balo.







































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét