Tôi bắt đầu một ngày mới bằng một cuộc giao lưu với ông chủ nhà nghỉ nơi tôi ở. Trải nghiệm ấy giúp Thái balo phần nào hiểu được những giá trị văn hóa gia đình của người dân đảo Bali.
![]() |
| bắt đầu buổi sáng bằng một bữa sáng đặc trưng Bali với rất nhiều hoa quả đặc biệt là món bánh chuối chấm mật |
Tôi thấy người ở đây có nhiều giá trị văn hóa giống người Việt mình, đặc biệt là ở giá trị gia đình và những kiểu mê tín vào những thế lực tâm linh ma quái. Nó thể hiện rất rõ trong cách họ bố cục nhà cửa. Theo như tục lệ tín ngưỡng, người Bali cho rằng tất cả vật thể trên trái đất này đều có linh hồn, kể cả ngôi nhà của họ. Vì thế, kiến trúc một ngôi nhà truyền thống sẽ có cấu tạo giống như con người, cũng có đầu thân và chân. Khu vực thờ cúng trong nhà thường được coi như đầu não của ngôi nhà và được xếp ở vị trí hướng về phía đỉnh núi Batur. Tại sao vậy? Vì đây là ngọn núi được cho là linh thiêng nhất đảo Bali do sở hữu một ngôi chùa lâu đời nhất. Vì thế, trỏ hướng miếu thờ về phía núi là một cách để “hấp thụ” luồng sóng từ trường cũng như tiếp nhận sự che chở của thần linh. Phần thân người ở đây là quần thể các gian phòng ngủ. Và phần chân người là khu vực bếp, thường hướng về phía biển. Vậy là xong phần người rồi nhé. Nhưng mà nhà mà không có tường thì cũng như là người khỏa thân không có quần áo. Vậy nên bao bọc xung quanh nhà phải có một lớp tường bảo vệ. Cũng nhưchúng ta, người Bali cho rằng ngoài đường có rất nhiều thể loại linh hồn ma quái có thể xâm nhập vào nhà gây hại.
| trước cổng nhà sáng nào cũng có đồ cúng bái để xua đuổi tà ma yêu quái lởn vởn ngoài đường |
Vì thế, nhất thiết phải có tường bảo vệ. Để chắc chắn hơn, họ cho xây nên hai bức tượng thần linh ở hai bên cổng vào, coi như là một biện pháp yểm bùa bát quái để chống xâm nhập. Về khía cạnh nào đó, nó giống như việc nhiều hộ gia đình Việt cho gắn cái gương bát quái trước cổng nhà. Hằng ngày, người Bali phải làm lễ cúng tế cho hai pho tượng này để cầu sự che chở của thần linh. Thêm một điều nữa chứng minh cho ảnh hưởng của tín ngưỡng đến kiến trúc Bali, đó là quan niệm ngủ về đêm của họ. Gió đêm là một biểu hiện của ác quỷ nên những gian phòng của họ luôn phải đóng chặt cửa sổ về đêm và cửa sổ không có song sắt hay khe hở để tránh cho “gió quỷ” đột nhập vào nhà. Trên hòn đảo này, rất hiếm khi tìm thấy một ngôi nhà truyền thống nào cao quá 2 tầng. Tại sao vậy? Có 2 lý do. Thứ nhất là đất của họ đã quá rộng rồi, thế nên chẳng việc gì phải xây nhiều tầng làm gì, mội người xí hẳn một gian rộng thênh thang. Thứ hai là Bali có 2 ngọn núi lửa là Batur và Agung. Người dân phải cho xây nhà thấp để đối phó với động đất. Chính vì tại núi lửa,người Bali thường chọn xây nhà xa trung tâm núi lửa và gần đồng bằng, nơi họ có thể tận dụng nguồn nước để thiết lập hệ thống tưới tiêu cho đồng ruộng.
Trên khía cạnh giá trị gia đình, việc rất nhiều thành viên trong gia đình sống chung dưới một mái nhà là chuyện rất phổ biến. Cứ mỗi khi người con trai lấy vợ về thì cả vợ chồng cùng sống với bố mẹ. Càng nhiều con trai thì sẽ càng có nhiều phòng ngủ độc lập nhưng nằm sát nách nhau. Một đại gia đình Bali có thể coi như là một ngôi làng nhỏ. Mỗi một gian phòng ngủ tương ứng với một cặp vợ chồng hay hộ gia đình nhỏ. Tất cả các gian phòng này nằm quây thành một hình chữ nhật và ở ngay chính giữa là một cái chòi tương đương như khu tiếp khách. Đây vừa là nơi họ đón tiếp khách đến, vừa là nơi ăn cơm và là nơi tất cả các thành viên trong gia đình tụ tập khi có cuộc họp nội bộ hoặc sum vầy lễ tết.
| gian nhà ở giữa là nơi tiếp khách kiêm phòng ăn của mỗi gia đình Bali. Cấu trúc nhà Bali có thiên hướng ngoài trời nhiều hơn là trong nhà |
Và bây giờ, tín ngưỡng + giá trị gia đình = tục thờ cúng tổ tiên, khá giống Việt Nam. Nhưng khác ở 2 điểm. Chúng ta đặt bàn thở tổ ở trong một gian phòng, còn người Bali do đất rộng nên cho xây hẳn một cái miếu ngoài trời. Người Việt chúng ta pha trộn thờ khá nhiều kiểu thần linh một lúc, bàn thở vừa có ảnh tổ tiên, lại có tượng Phật, đôi khi lại còn có cả một bàn thờ riêng thờ thổ địa.
![]() |
| một khu để thờ cúng của người Bali thường hoành tráng như thế này. Một tháp tương ứng với một thần linh |
Người Bali cũng có kiểu trộn thờ một lúc các vị thần của Hindu, thờ tổ tiên và thổ địa nhưng tất cả cùng tập trung tại một điểm. Mỗi ngày, phụ nữ trong gia đình tự tay làm lẵng hoa cúng tế ít nhất 2 lần để thực hiện nghi lễ cầu khấn. Vị trí đặt các lẵng hoa này có những ý nghĩa rất khác nhau. Tôi không nhớ rõ lắm nhưng hình như nếu đặt lẵng hoa ở phía trên cao thì có nghĩa là họ đang khấn các thần thánh, còn nếu đặt ở trên mặt đất thì có nghĩa là họ đang khấn các ác quỷ hoặc cô hồn lưu vong.
| phụ nữ Bali đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động tâm linh của mỗi gia đình Bali. Họ đảm nhận nhiệm vụ chuẩn bị sắm sửa lễ cúng bái hàng ngày. Việc dậy sớm và làm những món đồ hoành tráng như thế này là rất bình thường |
Như vậy là có thể thấy đạo Hindu ăn sâu vào nếp sống đời thường của người Bali nhưthế nào. Và nó cũng ảnh hưởng rất nhiều đến cấu trúc tổ chức xã hội Bali kể từ khi xảy ra một làn sóng di cư tị nạn của những gia đình quý tộc và hoàng gia từ đảo Java sang Bali. Họ mang theo tất cả những gì tinh hoa nhất của đạo Hindu, từ nghệ thuật đến tôn giáo, kèm theo cả cách tổ chức cai trị xã hội. Vì thế, có thể cho rằng sự phát triển thịnh vượng của đảo Bali chỉ xảy ra bắt đầu từ thế kỷ 17, thời điểm những gia đình quyền quý này bắt đầu xây dựng lại từ đầu hệ thống cai trị mới. Họ bắt đầu cho xây một loạt các cung điện xa hoa. Tuy nhiên, có thể thấy rằng những gì còn lại đến ngày nay cho thấy Ubud không phát triển như kiểu một kinh thành Bắc Kinh hay những gì người ta mường tượng về một hoàng thành hoành tráng thời phong kiến. Ubud chỉ đơn giản là quần thể một số cung điện hoàng gia được xây rải rác đây đó. Ngày nay, trong tất cả các cung điện còn sót lại, cung điện hoàng gia Puri Saren được coi là công trình kiến trúc hoàn thiện nhất tiêu biểu cho trường phái kiến trúc Bali, tuy rằng chỉ được xây từ đầu thế kỷ 19. Đây cũng có thể được coi như một trong hai địa danh quan trọng nhất của thị trấn Ubud, ngoài khu rừng Sacred Monkey Forest kể trên.
| Đường dẫn vào cổng chính của cung điện hoàng gia |
| có thể thấy đồ nội thất ở cung điện hoàng gia đã có một chút ảnh hưởng từ phương Tây. Điều này được giải thích bởi hơn một thế kỷ giao lưu văn hóa giữa Indonesia và Hà Lan. Indonesia đã từng là thuộc địa của Hà Lan. Indonesia = Indo + Nesia (Netheland) = Ấn Độ của Hà Lan. |
Có thể đảo Bali nhỏ bé, nhưng phong cách kiến trúc của hòn đảo này có những nét rất nổi bật khiến cho các chuyên gia kiến trúc sư hàng đầu thế giới phải ngả mình kính nể. Chẳng vì thế mà trong những cuốn sách chuyên ngành cũng nhưtrong các khoá học được giảng dạy tại các trường kiến trúc danh tiếng, cái tên Bali được nhắc đến khá nhiều, sánh ngang với dòng kiến trúc Nhật Bản, Ấn Độ, hay Trung Quốc. Nói tóm lại, Bali có những nét đặc thù của riêng mình, đủ để khi một kiến trúc sư nhìn vào một công trình, ông ta có thể dễ dàng nói chi tên “đây là kiểu Bali”. Vậy, đâu là những yếu tố làm nên tính Bali trong kiến trúc? Theo tôi, có 2 yếu tố chủ đạo:
Thứ 1 - Ảnh hưởng của đạo Hindu. Dù là một ngôi nhà thường dân hay một cung điện xa hoa, không khó để nhận thấy sự hiện diện của đạo Hindu trong phong cách kiến trúc. Hãy nhìn vào những ngôi miếu nhỏ hay những bức tượng đã mô phỏng thần thoại Hindu, nằm rải rác đây đó trong khuôn viên vườn hoặc trước cổng vào. Ảnh hưởng của Hindu cũng được thể hiện qua phong cách điêu khắc rất chi tiết và tinh xảo trên bề mặt các vật liệu xây dựng như phiến đá hay khúc gỗ.
Thứ 2- Vật liệu xây dựng. Do những đặc thù của một hòn đảo nằm trong vùng nhiệt đới và cũng do phong tục tập quán thờ Đất Mẹ, người Bali cho rằng nhà cửa cần phải sử dụng những vật liệu thân thiện với môi trường. Đó là lý do vì sao họ sử dụng rất nhiều vật liệu tự nhiên như tre, cây cọ, nứa, đất nung. Cho dù là cung điện hoàng gia, những vật liệu này không thể bỏ qua. Sự hiện diện của những vật liệu được cho là “bình dân” này đã khiến cho tổng quan của cung điện hoàng gia có gì đó rất đơn giản chứ không khoe mẽ hoành tráng như định nghĩa cung điện trong mường tượng của phần lớn chúng ta. Thêm nữa, cũng phải nói rằng đảo Bali không dồi dào các thể loại khoáng sản hay đá quý để có thế xây lên những công trình kiến trúc xa hoa.
Cung điện hoàng gia nói riêng và thị trấn Ubud nói chung cho tôi thấy một số điểm khá tương đồng về phong cách phát triển đô thị của Bali và của Hà Nội xưa. Điểm đầu tiên mà tôi thấy giống đó là Ubud không phải là một thị trấn được hình thành ngay từ đầu mà nó là một quần thể của rất nhiều ngôi làng nhỏ gộp lại. Rất nhiều trong số ngôi làng này chuyên cung cấp một loại hình sản phẩm để phục vụ nhu cầu của trung ương Ubud, đặc biệt là từ giới quý tộc và hoàng gia. Tôi đã dành ra khoảng 3 ngày chỉ để tìm ra những điểm tương đồng này. Và chương trình của ngày hôm nay tập trung vào các làng nghề truyền thống xung quanh Ubud. Ngay cạnh cung điện hoàng gia là khu chợ Pasar Ubud, trung tâm giao lưu kinh tế của thị trấn. Vai trò của khu chợ này có thể được so sánh với 36 phố phường xưa của Hà Nội. Các làng nghề xung quanh Ubud chỉ tập trung sản xuất một loại hình sản phầm rồi vận chuyển chúng đến khu chợ này.
| bên cạnh khu chợ Ubud cũng có một ngôi đền nơi dân bán hàng sáng nào cũng đến cúng bái. |
Nói chung, giá cả của các loại hình sản phẩm này không chênh lệch quá cao so với giá gốc ra lò từ các làng nghề vì phí vận chuyển không quá lớn và các nghệ nhân bán trực tiếp mặt hàng của mình chứ không phải chia cắt hoa hồng cho trung gian. Nếu như xưa kia, các mặt hàng chỉ giới hạn ở những vật dụng và nội thất thủ công thì ngày nay chúng đã đa dạng hơn, bao gồm cả đồ souvenir cho du khách.
Giống như bất cứ khu chợ nào trong Đông Nam Á, bạn phải mặc cả để có được một giá phải chăng và người bán hàng sẽ dễ dàng chấp nhận giá mặc cả của bạn vào đầu giờ sáng, coi như là mở hàng lấy hên. Ờ nói đến chữ hên mới nhớ, câu chào hàng cửa miệng của người dân nơi đây là :“bạn ơi, mua giúp mình cái này đi, nó sẽ đem lại cho bạn nhiều may mắn lắm đấy”.
| Mua một cái xâu chìa khoá hình dương vật để lấy may? Haizz. |
Thời điểm tốt nhất để thăm khu chợ này cũng rơi vào tầm sáng sớm, khoảng từ 5h đến 7h. Đây là thời điểm người dân địa phương đến đây mua bán, chuẩn bị cho bữa ăn hàng ngày và mua sắm đồ cúng tế. Cơ hội gặp người địa phương là 100%. Tất nhiên là du khách nước ngoài hầu như rất ít vì chẳng mấy ai có đủ dũng khí để ra khỏi giường lúc sáng sớm như vậy. Vì mới chỉ là những ngày đầu tiên trên đảo và còn nhiều cơ hội quay lại Ubud nên tôi không mất quá nhiều thời gian vào khu chợ này, chắc chỉ tầm hơn 1 tiếng.
| một gian hàng bán các thể loại cúng bái. Những hộ gia đình Bali nào không có điều kiện chuẩn bị sắm sửa lễ thì có thể đến đây mua |
Trước khi tiếp tục chương trình buổi chiều là giờ lấp đầy cái dạ dày đang biểu tình. Nhờ đọc tham khảo Lonely Planet và Guide du Routard, tôi ăn trưa tại nhà hàng Ibu Oka, chuyên về món baby guling, món lợn sữa quay, được nhồi đủ thứ gia vị và rau cỏ bên trong. Đây là đặc sản của riêng đảo Bali vì nên nhớ rằng Indonesia là quốc gia đạo Hồi và không ăn thịt lợn. Chỉ có đảo Bali theo đạo Hindu nên mới thoát khỏi sự kiêng kị này. Đối với tôi thì món này khá là ngon nhưng sẽ có những người không hợp khẩu vị lắm vì da lợn quay có vẻ khá là dai và món này đậm vị nước cốt dừa.
Nếu như trong buổi sáng, khu chợ Ubud và cung điện hoàng gia giúp tôi có được cái nhìn tổng quát về phong cách kiến trúc Bali, buổi chiều tập trung nhiều hơn vào nghệ thuật hội họa và các thể loại làng nghề đã và đang rất phát triển nhờ sự bảo trợ của tầng lớp hoàng gia nơi đây. Đi dạo quanh những góc phố của thị trấn Ubud, đôi khi tôi thấy có một điểm gì đó rất giống với phố cổ Hội An. Đó là những dãy phố với hàng loạt cửa hàng sưu tầm tranh vẽ nghệ thuật.
Tuy nhiên có một sự khác biệt về thâm niên phát triển. Hội An của ta mới chỉ phát triển du lịch từ đầu những thập niên 1990 và các cửa hàng bán tranh sinh ra vài năm sau đó. Còn đối với Ubud, đó là cả một thế kỷ phát triển. Quay trở lại vào đầu những thập niên 1910, một loạt họa sỹ lừng danh Châu Âu như Louise Koke, Miguel Covarrubias, Rudolf Bonnet, Han Snel, Antonio Blanco đã từng đặt chân đến Bali và tìm được nguồn cảm hứng sáng tác mới, chưa từng tồn tại trước đó.
Những khung cảnh thanh bình hằng ngày ở Bali được tái hiện lại qua các tác phẩm tranh đương đại và gây được tiếng vang lớn vào thời ấy. Đối tượng du khách đến với Ubud có những khác biệt rất rõ nét so với Kuta. Tại đây, tuy rằng khách Tây vẫn chiếm đa số nhưng họ là những người Tây có tầm tuổi trung bình cao hơn (tầm 30 trở lên), có văn hóa cao và thường đến từ Châu Âu xa xôi. Còn ngược lại, Kuta, với đặc thù là một bãi biển nghỉ dưỡng, thu hút phần lớn khách Tây đến từ Châu Úc gần kề và số lượng trẻ tuổi dưới 30 thì nhiều vô kể.
Mua đồ lưu niệm để trang trí nhà cửa là một trong những thói quen du lịch của tôi. Nhưng nếu mua tranh ngay tại thị trấn Ubud tạo cho tôi cảm giác rằng dễ bị “chặt chém”. Với tâm lý ấy, tôi nghĩ có lẽ nên mua đồ lưu niệm trực tiếp tại các làng nghề gần Ubud. Dù sao thì những loại hàng bán ở trong khu chợ Ubud thì cũng từ các làng nghề mà ra chứ chạy đi đâu được. Và thế là tôi thuê xe máy và lượn xuống phía nam của Ubud. Nói đến đây, cũng phải giải thích một chút. Du khách quốc tế hay gọi Ubud là “làng Ubud”. Nhưng trên thực tế, Ubud là một quần thể tập hợp 16 ngôi làng nhỏ với những tên gọi khác nhau. Trước kia, đa phần những ngôi làng này là làng nghề, chuyên sản suất một loại hình sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu thụ của tầng lớp thống trị xã hội Bali (hoàng gia và quý tộc). Ngày nay, chỉ còn lại một số làng nghề tập trung phía nam Ubud. Các loại hình sản phẩm đa số có thiên hướng nghệ thuật vì trước kia, giới quý tộc rất ưa thích các thể loại tranh vẽ, đồ trạm khảm điêu khắc để tôn thêm phần xa hoa cho cung điện của họ.
| chỉ cần ra khỏi Ubud một chút là khung cảnh đặc trưng Bali với những cánh đồng xen lẫn cây dừa lại hiện ra |
Chỉ cần xa khỏi Ubud chừng 5km về phía nam, tôi vào khu vực làng Batuan, chuyên sản xuất tranh vẽ dân gian. Nó làm tôi liên tưởng đến tranh vẽ Đông Hồ của chúng ta. Những bức tranh được tạo ra ở đây mang tính truyền thống hơn là ở Ubud, thị trấn ít nhiều hấp thụ những luồng ảnh hưởng của trường phái nghệ thuật vẽ phương Tây. Tại đây, vẫn là những bức tranh dân gian được vẽ theo kỹ thuật truyền thống, đề cập đến những chủ đề trong thần thoại đạo Hindu. Những khung cảnh vẽ trong tranh thường có điểm tương đồng với những khung cảnh được điêu khắc trong các ngôi đền miếu Hindu.
Cũng giống như tranh Đông Hồ của chúng ta, tranh dân gian Bali miêu tả khá nhiều những khung cảnh trong cuộc sống thường ngày của người dân Bali và những thế kỷ 17-19. Các nguyên liệu tạo ra màu sắc thường được tạo ra từ những cây cỏ tự nhiên. Gam màu chủ đạo là màu trắng, đen và ghi, tạo nên những khung cảnh thường hơi buồn và có cái gì đó hoài cổ và các nhân vật trong tranh thường có hình dạng kỳ quái tạo nên một khung cảnh chung có cái gì đó ma quái.
Vào những thế kỷ 18-19, phần lớn “họa sĩ” thời ấy đơn thuần chỉ là những ông nông dân sau khi đã đi cuốc đất buổi sáng xong thì dành thời gian rảnh rỗi buổi chiều để vẽ vời. Họ sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật dân gian chỉ là để phục vụ cho hoạt động thường ngày của làng vì vẽ trang trí cho các ngôi đền Hindu là một phần trách nghiệm của dân làng. Do đó, bản thân những ông nông dân này cũng không để ý nhiều đến việc những gì họ vẽ có được cho là một tác phẩm nghệ thuật hay không, họ thấy đẹp, thế là được.
Các bức tranh dân gian truyền thống thường có kích cỡ khá lớn, có khi dài đến vài mét. Đã thế, từng ô li của bức tranh được vẽ cực kỳ tỉ mỉ với những hình người bé tí teo thế nên không có bất cứ một khoảng trống nào trên tranh. Mức độ tỉ mỉ ấy đòi hỏi phải có nhiều người cùng tham gia vẽ vào một bức tranh chứ không thể là một người. Điều ấy càng làm gia tăng tính cộng đồng của dân làng. Ngày nay, khi Batuan trở thành một địa danh du lịch, những nghệ nhân đã biết cách biến tấu sản phẩm tranh của họ để phù hợp với nhu cầu du khách. Kích cỡ của các bức tranh được thu nhỏ lại để du khách có thể mang lên máy bay và người ta cũng pha trộn với một số kỹ thuật vẽ của phương Tây để phù hợp với gu thời nay. Đây chính là loại hình đồ lưu niệm mà tôi chọn mua khi rời Bali.
Làng nghề tiếp theo là Celuk, chuyên về kim hoàn và các thể loại vàng bạc trang sức. Trong tiếng Bali, Celuk là tên một loại táo đặc trưng chỉ mọc trên đảo này. Trong các câu truyện dân gian, có khá nhiều giai thoại đề cập đến trái táo vàng Celuk. Còn với ngôi làng này, trái táo vàng ấy có thể chính là nguồn thu từ việc phát triển làng nghề du lịch. Theo như thông tin người ta kể lại, ngôi làng này vào những thập niên 1960 chỉ có đúng 3 người là còn giữ được truyền thống nghề.
Sau khi Bali phát triển nhanh nhờ du lịch, làng nghề Celuk được quy hoạch để trở thành một địa danh shopping. Đảo Bali không có tài nguyên khoáng sản cho phép khai thác vàng bạc. Vì thế, đã từ lâu người Bali phải nhập loại kim loại quý này từ những hòn đảo lân cận đặc biệt là từ Borneo (thuộc Malaysia). Theo thông tin của một số diễn đàn du lịch, các sản phẩm trang sức của Celuk khá nổi tiếng ở Hoa Kỳ và Châu Âu và thậm chí có một số doanh nhân kiếm được khá nhiều tiền nhờ kinh doanh trang sức Celuk trên mạng. Ngoài ra, hầu như tất cả các công ty du lịch trên đảo đều thi nhau tổ chức tour đi qua làng này, vì thế tôi cũng tò mò đến thử xem sao. Không phủ nhận sự tinh xảo của hàng loạt sản phẩm như vòng cổ, lắc tay… nhưng tôi không có ấn tượng nhiều với làng nghề này.
Có lẽ là vì nó đã được quy hoạch quá hiện đại với những cửa hàng trưng bày cả một đống tủ kính cũng giống như rất nhiều khu shopping khác trong Đông Nam Á như Thái Lan hay Việt Nam. Số lượng khách Tây đến đây ít hơn hẳn so với lượng khách đến từ Châu Á, đặc biệt là từ các nước lân cận như Malaysia, Việt Nam hay Thái Lan. Việc dẫn các đoàn khách vào đây chắc chắn sẽ đem lại những khoản tiền hoa hồng béo bở cho các hướng dẫn viên du lịch, nó cũng giống như những tour Bangkok-Pattaya mà người Việt Nam vẫn thường đi. Chẳng ngạc nhiên vì sao đa phần các chương trình thăm đảo Bali do các hãng lữ hành Việt Nam tổ chức thường khá chú trọng vào việc ghé qua thăm mấy làng nghề kiểu này, vì biết khách Việt ham mua sắm shopping hơn là khám phá văn hóa. Tôi chỉ nán lại rất nhanh rồi chuyển đến làng nghề tiếp theo và cũng là làng nghề cuối cùng trong ngày: Batubulan.
Batubulan rất nổi tiếng bởi đây là nơi thường diễn ra buổi biểu diễn nhảy điệu múa truyền thống có tên là Barong. Lý do du khách quốc tế đến đây cũng là để có dịp thưởng thức loại múa này. Lúc tôi đến đây thì đã vào buổi chiều, cơ mà các show biểu diễn điệu múa barong thì lại chỉ có vào buổi sáng. Đây cũng là sơ xuất trong khâu chuẩn bị vì tôi đã không tham khảo kỹ lịch biểu diễn. Rất may mắn là điệu nhảy Barong này không chỉ được biểu diễn ở Batubulan mà còn ở nhiều ngôi làng khác trên đảo Bali. Tôi lỡ hẹn với barong trong ngày hôm nay nhưng tôi lại có dịp gặp lại nó trong ngày hôm sau.
Thái balo.























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét