NGÀY 4 : SIEM REAP & KAMPONG PHLUK
Ngày thứ 4 là ngày cuối cùng trong hành trình khám phá đất chùa tháp và nó có một điểm rất khác so với tất cả những ngày trước đó. Bỏ lại đằng sau những công trình đồ sộ Angkor hay những cung điện xa hoa ở Phnom Penh, chúng tôi khám phá sâu hơn những nét văn hoá đặc trưng của người Campuchia qua 3 khía cạnh: tôn giáo đạo Phật, nghệ thuật múa Apsara và làng chài Kampong Phluk trên biển hồ Tonle Sap.
Đã từng có dịp tham gia cúng giàng vào sáng sớm tại Luang Prabang (Lào), tôi hết sức háo hức trong việc tìm hiểu sự khác biệt giữa dòng đạo Phật tiểu thừa bên Lào và bên Campuchia. Đó là lý do vì sao tôi quyết định thiết kế một cuộc gặp mặt với sư trụ trì ở Siem Reap vào chương trình tour. Theo như dự kiến ban đầu, nội dung cụ thể của chuyến viếng thăm ngôi chùa Wat Preah Prom Rath sẽ như sau: tham gia lễ vẩy nước cầu may của sư trụ trì, giao lưu với sư và đặt những câu hỏi tổng quát về đạo Phật bên Campuchia và cuối cùng là thăm quan một lớp học đạo Phật và giao lưu với các học sinh ở đây. Tuy nhiên, thực tế đã không diễn ra như mong muốn. Vị sư trụ trì có lẽ bận việc gì đó nên chỉ có thể tổ chức được lễ vẩy nước cầu may và lớp học đạo Phật bên trong khuôn viên chùa thì đóng cửa do đó là ngày các chú tiểu phải đi học một lớp tiếng Anh nằm ở ngoại ô Siem Reap. Nhưng dù sao thì với sự thuyết trình của cậu hướng dẫn viên địa phương thì chúng tôi ít nhiều cũng nắm được sơ bộ sự khác biệt về cách vận hành một ngôi chùa Phật giáo giữa Campuchia và Việt Nam. Tôi sẽ có một bài viết dành riêng cho đạo Phật tiểu thừa bên Campuchia. Trước khi đến chùa, tôi đã có sẵn kế hoạch mua sắm đồ dâng lễ và công đức cho chùa một ít tiền. Tuy nhiên, vì không biết sẽ phải mua những gì và công đức bao nhiêu thì đủ, tôi đã hỏi nhờ sự giúp đỡ của bà chủ nhà nghỉ nơi chúng tôi lưu đêm. Tôi nhờ bà ta mua giúp luôn toàn bộ đồ lễ, như những gì mà người Campuchia thường làm khi họ thăm chùa.
Trên địa bàn thị trấn Siem Reap có cả thảy 2o ngôi chùa lớn nhỏ. Vì chỉ thờ đạo Phật thuần khiết và ít pha trộn với những dòng đạo khác, người Campuchia không có khái niệm đền hay đình như chúng ta. Họ chỉ có chùa là nơi duy nhất dân chúng lui đến. Ngôi chùa chúng tôi thăm có tên là Wat Preah Prom Rath, có khoảng 50 sư tu hành. Trong đó, đa phần là các sư trẻ đang độ tuổi học.
Lễ vẩy nước cầu may kéo dài khoảng 20 phút. Vị sư trụ trì niệm Phật bằng tiếng Phạn. Đến gần cuối, thầy dùng một chiếc bát có sẵn nước rồi vẩy nước vào chúng tôi. Sau đó, từng người một sẽ tiến lên chìa tay ra để thầy buộc một dải dây màu đỏ, biểu tượng cho điều may mắn. Nữ thì được buộc vào cổ tay trái, nam thì cổ tay phải.
Để tỏ lòng thành với nhà chùa, chúng tôi mua sẵn một phần lễ để tặng cho vị sư trụ trì. Bên trong bao gồm một số vật dụng thường ngày như kem đánh răng, vải vóc, bánh kẹo, một bó hương và một phong bì tiền. Tất cả đã được sắp đặt sẵn nhờ sự giúp đỡ của bà chủ nhà, nơi chúng tôi nghỉ trọ.
Sau đó, cậu hướng dẫn viên địa phương dẫn chúng tôi đi tham quan một vòng trong khuôn viên chùa. Tất cả được bao bọc xung quanh bởi hệ thống tường. Trên vách tường là một loạt các bức tranh màu nước, miêu tả lại quá trình tu hành của Phật Thích Ca, từ lúc sinh ra đến lúc niết bàn.
Một trong những chi tiết nổi bật nhất thể hiện sự khác biệt giữa chùa Phật của Campuchia và Việt Nam là khái niệm về tháp xá lợi và mối quan hệ giữa dân thường và chùa chiền. Trong tiếng Anh, tháp xá lợi được dịch là stupa. Có nguồn gốc từ Ấn Độ, tháp xá lợi vốn dĩ chỉ là một toà tháp nơi để lại phần hài cốt của bất cứ con người nào qua đời. Phần hài cốt của Phật Thích Ca cũng được lưu lại trong một ngọn tháp tương tự. Tuy nhiên, có vẻ như khi đạo Phật được truyền bá sang các nước lân cận, khái niệm về tháp xá lợi không được đồng bộ. Nếu như ở Việt nam chúng ta có khuynh hướng mặc định tháp xá lợi là toà tháp chỉ đựng xương cốt của Phật, thì bên Campuchia, tháp xá lợi là một mộ phần dành cho bất cứ ai dù đó là Phật, vua quan hay dân thường. Trên đất nước Campuchia, một người dân thường qua đời hoàn toàn có thể gửi gắm phần hài cốt của mình tại khu vườn trong chùa, toạ lạc trong một ngọn tháp nhỏ như hình ảnh trên. Tất nhiên, phải là những gia đình có điều kiện kinh tế thì mới có thể cho xây cất một mộ phần như vậy vì chi phí tối thiểu lên đến 1.500 usd. Còn với những người không có tiền thì họ cho chôn cất tại các nghĩa địa giống như ở Việt Nam.
Toà tháp này là mộ phần nơi chôn cất xương cốt của một vị quan chức có máu mặt trong tỉnh Siem Reap. Đúng là tiền càng nhiều, chức càng to thì toà tháp cũng hoành tráng theo. Đứng án ngữ trước cổng vào là 2 con bò trắng, một trong những tàn dư của ảnh hưởng đạo Bà La Môn. Như vậy, có thể thấy rằng tuy đạo Bà La Môn không còn là tôn giáo chủ đạo, Phật Giáo vẫn cho duy trì một cách hoà bình những ảnh hưởng của nó, đặc biệt là trong kiến trúc và tục thờ cúng thần linh địa phương. Những con vân linh thiêng có nguồn gốc từ đạo Bà La Môn như bò, sư tử, xà tinh Naga vẫn được người Campuchia tôn thờ rộng rãi như những vị thần hộ pháp.
Tầm 9h00, chúng tôi ra khỏi khuôn viên chùa và thăm trường dạy múa Apsara. Việc thăm trường này là một phần tiếp theo rất tự nhiên sau khi chúng tôi đã có dịp xem biểu diễn tối hôm trước đó tại nhà hàng Koulen II. Được coi nhưlà biểu tượng nghệ thuật phi vật thể của quốc gia, hiểu được điệu nhảy này là một điều cực khó nhưng tôi nghĩ việc thăm quan từng lớp học múa có thể sẽ giúp chúng tôi vỡ ra được phần nào. Chí ít thì cũng biết được phương pháp người Campuchia duy trì và bảo tồn những giá trị nghệ thuật truyền thống của họ và cũng là một trải nghiệm thú vị khi có dịp giao lưu với các học viên cũng như giáo viên khơ-me. Dưới sự giải thích của một cậu quản lý trường học, chúng tôi đi qua từng gian phòng học, nơi các học viên đang miệt mài luyện tập và tìm hiểu lịch sử đầy thăng trầm của Apsara.
Nhắc lại một chút về nguồn gốc điệu múa Apsara. Có xuất xứ từ đạo Bà La Môn đến từ Ấn Độ, Apsara theo truyền thuyết của đạo này là những nàng tiên trên thiên đàng được sinh ra từ bọt sóng biển và rất giỏi nhảy múa. Khi đạo Bà La Môn được du nhập vào Campuchia dưới đế chế Angkor, những bức điêu khắc hình các vũ công Apsara được tạo nên ở khắp nơi, đặc biệt là ở những ngôi đền như Angkor Wat, Angkor Thom hay Ta Prohm. Vào thời kỳ hưng thịnh nhất của đế chế Angkor (889-1434), điệu múa apsara chỉ được nhảy trong hoàng cung để mua vui cho vua chúa. Theo các chuyên gia sử học, dưới thời của vua Jayavarman VII (thế kỷ 13), cung đình có khoảng 3000 vũ công apsara.
Do thừa hưởng những nét văn hoá của Ấn Độ, các tưthế và kỹ thuật của điệu múa Apsara có nhiều điểm giống những điệu nhảy tại các quốc gia chịu ảnh hưởng của đạo Bà La Môn như Thái Lan và Indonesia. Nhân tiện đây, cần phải làm rõ một chi tiết. Những ai đã từng sang Thái Lan và xem múa biểu diễn nghệ thuật thì khi sang Campuchia họ sẽ không tránh khỏi việc đặt ra câu hỏi: “sao điệu múa và nhạc cụ bên này giống bên Thái thế nhỉ?”. Nhưng nếu tìm hiểu kỹ lịch sử, các bạn sẽ phải phát biểu câu ngược lại. Chính Thái Lan mới là quốc gia thừa hưởng những nét nghệ thuật của Angkor để rồi phát triển thêm và tạo ra điệu nhảy của họ. Nên nhớ rằng vương quốc Siêm (nay là nước Thái Lan) là một nước chư hầu của đế chế Angkor và chịu rất nhiều ảnh hưởng văn hoá của nó. Khi nước Siêm trở thành một vương quốc hùng mạnh, họ quay lại làm phản và xâm chiếm đế chế Angkor vào thế kỷ 15. Sau đó, quân Siêm thấy điệu múa Apsara “hay” quá nên bắt toàn bộ đội ngũ vũ công apsara cung đình về nước rồi học cách duy trì điệu múa này và “chế” thêm vài chi tiết nữa.
Số phận của điệu múa này đi cùng với vận mệnh của dân tộc khơ-me. Sự sụp đổ của đế chế Angkor vào thế kỷ 15 đã khiến cho apsara bị rơi vào quên lãng. Mặc dù dưới thời thuộc địa Pháp, điệu múa được phục hưng một chút nhờ sự bảo hộ của hoàng gia, Apsara một lần nữa ở bên bờ vực diệt vong khi quân khơ-me đỏ lên nắm quyền. Phải chờ đến tận sau năm 1995, với sự giúp đỡ của các quốc gia phương Tây, điệu múa Apsara mới được quan tâm trở lại và ngày nay ngày càng có nhiều trường dạy múa được mở ra với hi vọng sẽ giúp nó tìm lại ánh hào quang của quá khứ.
Nhờ vào những bức khắc hoạ trên tường, các tư thế cũng nhưtrang phục biểu diễn của Apsara được lưu truyền cho các thế hệ sau. Tuy nhiên, những gì mà chúng tôi thấy qua buổi biểu diễn tối hôm trước có nhiều điểm khác so với phong cách biểu diễn gốc vào thế kỷ 13. Đa phần những dạng nhảy ngày nay sinh ra từ thế kỷ 18 chứ không phải là vào thơi hưng thịnh của đế chếAngkor. Nhảy Apsara ngày nay có thể được chia thành 2 trường phái: trường phái kinh điển với những trang phục và kỹ thuật giống như các bức điêu khắc trên đền Angkor, và trường phái dân gian chủ yếu miêu tả cuộc sống đời thường của người khơ-me ở vùng nông thôn.
Trong một buổi biểu diễn phổ biến tại các nhà hàng hay khách sạn, người ta chỉ nói chung là "Apsara Dance Show". Nhưng trên thực tế, hiếm khi nào người ta chỉ cho biểu diễn mối điệu múa Apsara thuần khiết mà còn bổ sung thêm một số tiết mục văn nghệ khác để tránh gây nhàm chán cho du khách. Vì thế, còn có cả điệu múa dân gian khơ-me.
Các lớp học mà chúng tôi tham quan cũng được phân theo 2 trường phái này. Nếu như điệu múa Apsara trường phái kinh điển chỉ do nữ giới đảm nhiệm thì trường phái dân gian thu nhận cả nam giới vì đây là một điểu múa tập thể đòi hỏi phải có cả nam và nữ.
Nhìn những bước chân và cách nhún mình của các vũ công, trông có vẻ là đơn giản nhưng thực ra vô cùng phức tạp. Điệu múa apsara được tạo ra để kể về các giai thoại trong truyền thuyết đạo Bà La Môn, trong đó có sử thi Ramayana. Vì vậy, các mỗi một động thái cử chỉ của vũ công đều ám chỉ một thông điệp. Tổng thể các cử chỉ sẽ tạo ra tập hợp các thông điệp và “kể truyện”. Để hiểu đơn giản hơn, các cử chỉ giống nhưcác ký hiệu của những người học tiếng câm điếc vậy. Theo như lời giải thích của cậu quản lý trường học, điệu múa Apsara có cả thảy hơn 1500 cử chỉ khác nhau, giống như những người câm điếc học cách ra hiệu ngón tay. Các học viên phải luyện tập rất siêng năng để học thuộc lòng quần thể cử chỉ này. Trung bình, các viên cần 6 năm đầu tiên để có thể sử dụng thành thạo 1500 cử chỉ trên. Họ cần thêm từ 3 đến 6 năm nữa để học thêm khoảng 3000 cử chỉ nữa và đạt đến trình độ nghệ thuật chín muồi, đủ để có thể biểu diễn tại các nơi như nhà hàng ở Campuchia hay khi đi lưu diễn trên thế giới.
Múa Apsara cần có một bộ trang phục đi kèm. Người khơ-me có một kiểu quấn khăn váy rất đặc trưng. Trong buổi giao lưu với các học viên múa, chúng tôi đã có dịp chứng kiến cách họ cuốn một mảnh vải 4m thành một chiếc quần hoàn chỉnh. Rất ấn tượng!
Đặc điểm nổi bật nhất của điệu múa apsara là độ dẻo cả ngón tay và ngón chân, cổ tay và cổ chân. Những vũ công apsara hoàn toàn có thể uốn cong ngón tay và để đầu ngón tay chạm được cổ tay. Để là được điều này thì các vũ công cần có tố chất dẻo ngay từ bé.
Đó là lý do vì sao các trung tâm dạy múa rất khắt khe trong việc tuyển chọn học viên, đặc biệt là độ dẻo bẩm sinh của các cháu bé từ lúc 7 tuổi. Ngoài yếu tố độ dẻo và độ tuổi, các trường dạy múa như nơi chúng tôi thăm còn có 2 chỉ tiêu nữa khi tuyển chọn học viên: các em phải là học sinh của các trường công lập và chỉ có những em sinh ra trong gia đình nghèo khó thì mới được nhận vào.
Đặc điểm rõ nét tiếp theo để nhận biết các vũ công apsara là trang phục biểu diễn sặc sỡ màu sắc của họ. Mỗi một bộ như thế này nặng khoảng 10kg với rất nhiều chi tiết được dát vàng. Trị giá của một bộ trang phục như vậy vào khoảng 1500 USD.
Đại đa số các trường dạy múa apsara đều hoạt động dưới dạng hiệp hội từ thiện, một mặt giúp đỡ các trẻ em nghèo mặt khác duy trì những giá trị truyền thống của điệu múa này. Điều đó đòi hỏi phải có một nguồn tài chính ổn định để trả tiền cho các giáo viên, sắm sửa cơ sở hạ tầng cũng như cung cấp miễn phí đồ dùng học tập cho các học viên. Nguồn thu chủ yếu của các trung tâm này đến từ số tiền quyên góp được trong những lần lưu diễn ở nước ngoài, sự đóng góp của các vị khách du lịch hoặc các doanh nghiệp hảo tâm. Tuy nhiên, chừng ấy có lẽ chưa đủ để trang trải tất cả các khoản chi tiêu. Vì thế, không ít trường học đã phải đóng cửa vì thiếu kinh phí hoặc buộc phải sáp nhập vào các trung tâm lớn hơn để tiếp tục tồn tại.
KAMPONG PHLUK
Buổi chiều là chuyến du ngoạn thăm biển hồ Tonle Sap, một phần của dòng sông Mekong huyền thoại. Đây là một trong những biểu tượng của nền văn hoá Campuchia và đó là lý do vì sao tôi bắt buộc phải dành hẳn một nửa ngày để khám phá nó. Ngoài nét văn hoá đặc trưng của những ngôi làng nổi mọc quanh rìa hồ thì Tonle Sap còn được biết đến nhờ hiện tượng địa lý có một không hai: hiện tượng nước sông đổi dòng chảy. Đất nước Campuchia bị chi phối bởi hai mùa, mùa mưa và mùa khô. Diện tích hồ Tonle Sap có sự biến đổi một cách chóng mặt giữa hai mùa này: khi vào mùa mưa, diện tích của nó lên đến đỉnh điểm là 150km chiều dài và 60km chiều rộng. Còn đến mùa khô thì diện tích ấy bị thu hẹp lại 6 lần. Sự chênh lệch chiều sâu giữa mùa mưa và mùa cạn là 10m! Trong vòng 3 tháng đầu của mùa mưa (từ tháng 8 đến tháng 11), mưa rất nhiều nên mực nước sông Mekong tăng đột biến, cao hơn so với mực nước của sông Tonle. Sự tăng đột biến này được giải thích một mặt là do băng tan ở thượng nguồn sông Mekong ở Tây Tạng chảy dồn xuống, mặt khác là do mưa nhiều rơi trực tiếp xuống phần sông ở Myanmar, Thái Lan và Lào rồi cộng dồn chảy qua Campuchia. Độ xiết của sông Mekong lớn hơn của sông Tonle và nhờ thế dòng chảy của Mekong lấn át Tonle Sap khiến cho tất cả dòng chảy đều hướng ngược về hồ Tonle Sap. Vì thế, nước từ sông Mekong sẽ đổ về phía sông Tonle khiến cho dòng nước chảy sẽ từ thủ đô Phnom Penh về Siem Reap, đem theo một lượng phù sa khổng lồ từ sông Mekong.
Sự chênh lệch về mực nước và nguồn sinh thái do hồ Tonle Sap mang lại đã tạo ra một nét văn hoá sống rất đặc sắc của những cộng đồng làng chài mọc ven hồ. Hồ Tonle Sap đối với người Campuchia giống như đồng bằng sông Cửu Long với đồng bào miền Nam bởi đây là nguồn cung cấp cá cho hơn nửa dân số quốc gia. Theo như cậu hướng dẫn viên địa phương nói, có cả thảy hơn 20 ngôi làng tồn tại xung quanh rìa hồ. Có nơi thì chủ yếu là người gốc Việt Nam, có nơi thì chỉ có khơ me và có nơi thì hỗn độn hai bên. Nếu lấy điểm xuất phát từ thị trấn Siem Reap, sẽ có 2-3 ngôi làng chài có thể thăm được trong bán kính 10-50km. Tôi có nghe nói đến ngôi làng Chong Kneas là nơi dễ đến hơn cả vì chỉ cách Siem Reap chừng 15km. Tuy nhiên, tôi đã không chọn nó vì biết trước rằng đây là một địa danh bị thương mại hoá quá nhiều với một hàng dài những xe 45 chỗ nối đuôi nhau. Thay vào đó, tôi chọn ngôi lang Kampong Phluk, cách Siem Reap khoảng 30km về phía đông nam.
Đường đi không được rải nhựa ngon lành như làng chài Chong Kneas, nhưng chúng tôi chấp nhận con đường đất nện vất vả hơn nhưng đó mới là cơ hội để tiếp cận một làng chài còn giữ được nhiều bản sắc dân tộc hơn. Chong Kneas đã bị mất cái hồn khơ-me từ những năm 2000, còn Kampong Phluk vẫn còn là một làng chài mộc mạc.
Nếu như vào mùa mưa, mực nước hồ Tonle Sap sẽ rất cao, ngập đến gần cổng soát vé và du khách chỉ việc đi bộ vài bước là có thể nhảy lên thuyền đi luôn. Chúng tôi đến vào mùa khô nên bãi đỗ thuyền cách quầy soát vé đến 3km, vì thế buộc phải dùng xe đi tiếp đến đó. Vào mùa mưa, những dòng nước khổng lồ từ sông Mékong chảy ngược vào hồ Tonle Sap, mang theo một lượng đất phù sa rất lớn. Đến khi mùa nước cạn, lượng phù sa này cặn lại trên bề mặt, làm cho đất đai phì nhiều giúp người dân có thể trồng trọt lúa. Con đường gồ ghề dẫn chúng tôi vào làng chài thể hiện rõ màu đỏ của phù sa.
Mực nước cạn được thể hiện rất rõ qua sự đục ngầu của nước sông. Trong tiếng động cơ ồn ào, thuyền của chúng tôi chạy men theo những nhánh sông uốn khúc quanh co để đến được làng chài Kampong Phluk, cách đó chừng 3km.
Đây đó là những cư dân địa phương dùng xuồng máy hoặc thuyền độc mộc để đi lại. Cứ tầm 10m thì chúng tôi lại bắt gặp người dân địa phương đang thả lưới đánh bắt cá. Thế rồi đùng một cái, khi chiếc thuyền quặt vào một chỗ uốn khúc, làng chài Kampong Phluk bỗng xuất hiện với một khung cảnh giống trong phim chưởng.
Hai bên sông là những ngôi nhà lụp sụp được xây tạm bợ từ tre nứa. Tất cả đều nằm trên những cột đỡ bằng gỗ với chiều cao trung bình từ 8 đến 15 mét, nhằm chống chọi lại sự biến đổi về mực nước hồ giữa mùa mưa và mùa khô. Một thoáng khung cảnh của Lương Sơn Bạc trong bộ phim Thuỷ Hử.
Khác với nhiều ngôi làng chài ven rìa biển hồ Tonle Sap, đa phần các ngôi nhà tại làng Kampong Phluk được thiết kế cheo leo trên cao với hàng loạt các cột chống phía dưới. Giải thích cho hiện tượng này, cậu hướng dẫn viên nói rằng người dân nơi đây không thích xây nhà kiểu trôi nổi trên mặt nước vì những điều kiện vệ sinh không đảm bảo của nước có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ. Lời giải thích này có vẻ không được hợp lý lắm vì nếu nước hồ đã bẩn thì dù bạn có sống ở trên cao hay trôi nổi trên nước thì tất cả đều phải dùng đến nước hồ để sinh hoạt. Có lẽ lý do nguồn nguyên liệu có sẵn là hợp lý hơn cả. Các thể loại tre nứa rồi cột chống bằng gỗ đều có xuất xứ từ khu rừng phía bắc của Siem Reap và được vận chuyển dễ dàng bằng cách cho trôi dọc theo sông Siem Reap rồi chảy vào cửa hồ Tonle Sap. Người dân chỉ việc vớt lên rồi cho xây cất nhà.
Trái với suy nghĩ ban đầu của tôi, mùa đánh bắt cả của người dân nơi đây không phải vào mùa mưa mà lại là vào mùa khô, lúc mà mực nước hồ Tonle Sap đang ở mức thấp nhất. Tại sao vậy? Đó là bởi vì khi vào mùa mưa, cá lớn bơi theo luồng nước từ sông Mekong đổ ngược vào hồ Tonle Sap. Sau đó một thời gian, đó là mùa cá đẻ trứng và căn đúng vào lúc mùa nước hạ thì đây là thời điểm trứng đã nở và cho ra hàng triệu con cá đã đến độ lớn vừa đủ để thu hoạch. Mặt khác, khi nước hồ rút xuống với tốc độ rất nhanh, cá không kịp bơi theo dòng chảy trở về sông Mékong và bị mắc kẹt trong biển hồ Tonle Sap. Thế là tất cả bao nhiêu cá bị cô lập trong biển hồ này hết. Người dân chỉ việc thong thả mắc lưới và thế là thu hoạch được khối cá. Nước hồ rút xuống nhanh đến mức nhiều chú cá không thoát kịp, bị mắc vào cành cây và chết đứ ở trên đấy!!
Cá có thể coi là "mỏ vàng" cho người dân Kampong Phluk khai thác. Tuy nhiên, có vẻ như nguồn tài nguyên trời phú ấy không giúp gì nhiều cho họ trong việc cải thiện đời sống. Trong suốt hành trình du ngoạn trên thuyền, chúng tôi không thấy nhiều dấu hiệu cho thấy ngôi làng này đang sống trong thời kỳ hiện đại. Trái ngược lại,không gian nơi đây tạo một cảm giác đang sống vào thời nguyên thuỷ. Nguyên thuỷ bởi cái cách mà họ đánh bắt cá. Quá thô sơ! Chúng tôi thấy có những người cứ ngâm mình trong làn nước đục ngầu, dưới cái nắng chói chang rất nhiều giờ với những cái lưới được đan rất đơn giản. Chẳng biết công sức bỏ ra nhiều như vậy thì có thu hoạch được mấy con cá đây?
Sau một hồi thuyền đi dọc theo con sông, chúng tôi chạm đến cửa sông và tiếp cận rìa biển hồ Tonle Sap. Màu nước đục kiểu sô cô la nhường chỗ cho những làn nước thiên về màu xám và màu vàng của nắng. Chúng tôi bắt gặp khá nhiều ụ tre rất to, hỏi ra thì biết đó là những chiếc bẫy cá khổng lồ. Khi mực nước hồ tụt xuống rất nhanh, cá sẽ bị mắc lại trong những rọ tre đó và người dân chỉ việc lấy chúng ra. Trung bình một rọ như vậy cho phép giăng bẫy 100-200kg cá.
Quy luật tự nhiên của Tonle Sap có thể sẽ chịu một số xáo trộn bởi dọc sông Mekong đang có khoảng 11 sự án xây đập thuỷ điện. Nên nhớ rằng mực nước dòng sông Mekong tăng hay giảm ngoài việc dựa vào lượng nước mưa thì còn do mức độ băng tan trên thượng nguồn bên Himalaya chảy xuống. Dùng đập thuỷ điện ngăn nguồn nước chảy xuống đồng nghĩa với việc xáo trộn mực nước tự nhiên và quy luật đổi dòng. Qua đó, trữ lượng cá có thể sẽ bị thay đổi. Đấy là chưa kể việc người Campuchia lạm dụng việc đánh bắt cá một cách quá độ trong khi chu kỳ đẻ trứng của cá không đủ nhanh để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân. Việc thiếu nguồn cung cấp cá trong tương lai đang là một vấn đề nan giải của quốc gia này.
Lác đác đây đó là những ngôi nhà nổi, được đỡ bởi những cọng tre và thùng phuy. Người ta nói rằng đa phần chủ sở hữu những ngôi nhà nổi này là người Việt Nam nhập cư trái phép không giấy tờ. Thông tin này thực ra thì tôi đã biết từ trước khi đến Campuchia bởi tôi đã đọc không ít bài viết phản ánh tình trạng của người Việt bên này. Tôi sẽ có một bài riêng đề cập đến nó. Quay trở lại với biển hồ Tonle Sap, khi ra đến cửa sông thì đã quá trưa, chúng tôi quyết định ăn trưa tại một nhà hàng nổi rồi sau đó lại lên thuyền và quay trở lại đường cũ. Lần này, chúng tôi không chỉ ngồi trên thuyền vãn cảnh nữa mà lại lên bờ và tiếp cận trực tiếp cộng đồng làng chài nơi đây
Tuy nghèo, các hộ gia đình làng Kampong Phluk vẫn còn đỡ thảm hơn nhiều các ngôi làng chài khác vì họ được sự giúp đỡ của một số tổ chức quốc tế. Một trong những lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là giáo dục. Người Mỹ có vẻ đóng vai trò khá quan trọng trên khía cạnh này. Sang bên Campuchia, nếu bạn là một người có trình độ tiếng Anh giỏi thì sẽ không khó nhận ra rằng người Campuchia nói chung và đội ngũ hướng dẫn viên tiếng Anh nói riêng đều nói thứ tiếng này với âm ảnh hưởng từ Hoa Kỳ. Nguyên nhân là do đa phần các lớp dạy tiếng Anh đều do người Mỹ giảng dạy. Chúng tôi có dịp thăm một lớp học tiếng Anh cho trẻ em 8 tuổi khi đang tản bộ trên trục đường chính của làng Kampong Phluk. Tại đây, cứ khoảng 3-6 tháng thì lại có một nhóm sinh viên hoặc du khách từ Hoa Kỳ đến dạy tiếng Anh miễn phí. Chúng tôi có dịp giao lưu và tặng quà cho các em, món quà tuy đơn giản với bút Thiên Long từ Việt Nam và vở mua ở Siem Reap. Do đã được chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt thông tin, tôi biết trước rằng tại đây hay xảy ra hiện tượng lừa đảo: một số người bán hàng rong lạm dụng lòng từ bi của du khách rồi dụ dỗ mua đồ dùng học tập của họ để tặng cho trẻ em. Giá hình như rơi vào tầm 10-20USD cho một xấp sách vở và vài hộp bút. Sau đó, trẻ em hoàn trả lại sách vở cho mấy bà bán hàng và lại bán lại tiếp. Đó là lý do vì sao tôi đã chuẩn bị mua trước bút bi Thiên Long ngay từ đầu Hà Nội và khi trao sách vở cho các em thì mở hẳn các xấp vở được bọc ni-lông và tỉ mỉ trao tận tay từng em một. Tất nhiên, điều đó khó có thể hạn chế tối đa việc một số em (hoặc tất cả) đem số quà tặng đó trao lại cho mấy bà bán rong rồi đem bán lại cho những nhóm du khách khác. Tuy nhiên, chí ít thì chúng tôi tặng bằng hiện vật chứ không bằng tiền (thể hiện sự tôn trọng với họ) và chúng tôi cảm thấy trong tâm mình đã làm được một điều gì đó có ích.
Làng Kampong Phluk dù nghèo nhưng vẫn có điều kiện để đầu tư vào giáo dục hơn nhiều ngôi làng chài khác. Cụ thể là tại đây còn có một cơ sở trường cấp một và cấp hai. Chúng tôi chọn thăm một lớp học cấp một vào đầu buổi chiều, nhân dịp các em đã ăn trưa xong và đang vào tiết học môn giáo dục công dân.
Cô giáo chủ nhiệm nói với chúng tôi rằng tại trường tiểu học này có khoảng 500 em và cách phân các lớp học cũng tương đương như Việt Nam. Có vẻ như phương pháp dạy học ở đây cũng giống Việt Nam luôn. Sau khi chúng tôi phân phát quà cho các cháu xong, cô giáo dùng thước kẻ gõ xuống bàn một cái thể là tất cả học sinh đồng thanh nói chậm rãi từng từ: “THANK YOU VERY MUCH!!”
Ra khỏi trường học, chúng tôi tản bộ trên một con đường được cho là trục đường chính xuyên khắp ngôi làng. Vào mùa mưa, mực nước lên ngập hết toàn bộ ngôi làng và thay vì đi lại bằng đôi chân như chúng tôi, người dân sử dụng thuyền bè. Sự phân hoá tầng lớp giàu nghèo ngay giữa lòng cộng đồng chài ở đây. Những người có khả năng kinh doanh thì biết cách tập hợp hải sản của những hộ gia đình lẻ tẻ rồi bán buôn, nhờ đó có kiếm được nhiều tiền hơn và có điều kiện mua sắm vật liệu gỗ và sơn để làm nên những ngôi nhà kiên cố hơn, được trang trí đẹp hơn. Còn những hộ gia đình nào chỉ biết đi đánh bắt cá thì đành cam chịu số phận nghèo và bằng lòng với những ngôi nhà lụp sụp, chỉ được lợp bằng lá cọ thốt-nốt và nền nhà được đan từ tre nứa. Trong nhiều hộ gia đình đã được hỗ trợ miễn phí bình lọc nước để có nước sạch uống (công nghệ do tổ chức Unicef tài trợ) còn hệ thống khoan nước giếng thì do chính phủ Phần Lan tài trợ.
Trẻ em ở đây rất quý du khách nước ngoài vì chẳng mấy khi có khách du lịch đến đây. Đã có chuẩn bị chu đáo từ trước, tôi rút trong túi ra vài túi kẹo Made in Vietnam tặng cho các em. Cơ mà ban đầu chỉ thấy lèo tèo 2-3 em, sau đấy thì thấy thêm hơn 10 em nữa bủa vây!!!
Buổi tối cuối cùng trên đất Campuchia là một dịp tốt để mua sắm những món đồ lưu niệm cho người thân và bạn bè. Vì thế, chúng tôi mỗi người có thời gian riêng để tự do thoả thích khám phá. Siem Reap trở thành một khu vui chơi giải trí kiểu Pattaya kể từ những năm 1991-1993. Hay nói chính xác hơn, người phương Tây đã “làm hư” người dân Siem Reap nói riêng và Campuchia nói chung. Quay trở lại vào những năm đầu của thập niên 1990, hội đồng bảo an liên hiệp quốc đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh quốc gia và bảo đảm sự ổn định của Campuchia sau những năm tháng bị nội chiến tàn phá.
Trong giai đoạn này, những gì được cho là đồi bại nhất của văn hoá phương Tây (rượu chè say xỉn, mại dâm vô tội vạ, tình dục thoáng, vv) đã trở thành một làn sóng virus tiêm nhiễm vào một số phần tử của xã hội khơ me. Tại khu phố Pub Street về đêm, không khó để tìm thấy những tay lái xe tuk tuk chủ động tiếp cận bạn và gợi ý cò mồi dịch vụ mại dâm. Những câu kiểu như: " hello my friend. Do you want boom boom? I have nice ladies for you. Common!" có thể được nghe rất rõ.
Điều đó giải thích một phần vì sao Siem Reap có bộ mặt như ngày hôm nay với khu phố Pub Street và hàng loạt quầy bar mở thâu đêm và tất nhiên là những chiếc xe tuk tuk liên tục tiếp cận du khách để cò mồi dịch vụ sex. Theo báo cáo của các tổ chức quốc tế, Campuchia chỉ xếp sau Thái Lan trong khu vực Đông Nam Á về mật độ du khách quốc tế đến sử dụng dịch vụ sex. Tuy mang một khía cạnh hình ảnh tương đối tiêu cực như vậy, thị trấn Siem Reap về đêm vẫn xứng đáng để bạn khám phá bởi không khí náo nhiệt của những khu chợ đêm hay chỉ đơn thuần là tản bộ giữa dòng người tấp nập và nhấm nháp một chai bia nhãn hiệu Angkor.
Khu phố Pub Street có thể được coi là trung tâm của thị trấn Siem Reap bởi tất cả những gì náo nhiệt nhất đều nằm ở đây. Một phần của khu vực này vẫn còn giữ được cấu trúc của một khu phố được xây dựng dưới thời Pháp thuộc. Những ngôi nhà hai tầng kiến trúc Pháp khiến tôi có cảm giác đang ở những thị trấn khác cùng trường phái như Luang Prabang hay Hội An.
Khu chợ đêm, hay còn gọi là Night Market có bán ti tỉ thứ đồ. Tuy rằng cửa hàng nào cũng bán những món đồ giống nhau và giá cả tương đương, cảm giác được nhìn nhiều thứ và mặc cả với người bán hàng thực sự là một trải nghiệm thú vị. Ngoài những thứ mang tính thủ công như điêu khắc gỗ, đá hoặc đồ tơ lụa thì rất nhiều mặt hàng ở đây có xuất xứ từ Thái Lan vì biên giới Thái chỉ cách thị trấn Siem Reap vài trăm cây số.
Một trong những mặt hàng đặc trưng nhất tại đây là loại khăn krama mà dân phượt Việt hay mua. Nếu như người Việt chúng ta chỉ biết quàng nó lên cổ như là một chiếc khăn thuần tuý thì người khơ me dùng nó với nhiều mục đích khác nhau. Dải khăn bằng cotton này đóng vai trò đa năng trong cuộc sống đời thường của người Campuchia: che bộ phận sinh dục khi đi tắm trần ngoài trời, phụ nữ địu trẻ sơ sinh, võng đi ngủ, vv.
NGÀY 5 : SIEM REAP / PHNOM PENH / SAIGON
Ngày hôm nay là một chặng đường rất dài bằng ô tô, 15 tiếng ngồi “mài đũng quần” trong chiếc xe Mekong Express Limousine để quay trở lại Sài Gòn. Đường thì xa mà lại có nhiều khúc chất lượng kém và xe lại còn chạy chậm nữa. Vì thế, cảm giác mệt mỏi cũng tăng lên phần nào. Dẫu biết rằng đường đi vất vả nhưng đoàn không có lựa chọn nào khác bởi phương án đi bằng đường bộ vẫn là giải pháp tiết kiệm nhất so với việc bay máy bay thẳng về Việt Nam. Cho dù bạn có cộng thêm giá nghỉ nhà trọ ở Sài Gòn, tiền xe buýt từ Siem Reap về Sài Gòn, vé máy bay Vietjet Air Saigon-Hanoi và tiền ăn tối ở Sài Gòn thì tất cả cộng lại vẫn còn rẻ hơn chuyến bay thẳng Siem Reap-Hanoi của hãng Vietnam Airlines hay Angkor Air đến tận 80USD/ người.






















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét